Phân tích nhân vật quản ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Tiến sĩ Văn học Trịnh Thị Tuyết là giáo viên trường THPT Chu Văn An – Hà Nội sẽ hướng dẫn các em Phân tích nhân vật quản ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Tác phẩm “Chữ người tử tù” là truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Tuân trích trong tập “Vang bóng một thời”. Tác phẩm không chỉ thể hiện tài năng của ông trong việc xây dựng tình huống truyện mà còn thể hiện một phong cách độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.

Bên cạnh Huấn Cao, Nguyễn Tuân còn thành công trong việc xây dựng nhân vật quản ngục – “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luận đều hỗn loạn, xô bồ”. Và bài giảng dưới đây, cô Trịnh Thu Tuyết sẽ cùng các em đi tìm hiểu nhân vật này.

phan-tich-nhan-vat-quan-muc-trong-tuyen-ngan-chu-nguoi-tu-tu-cua-nguyen-tuan

Tiến sĩ Văn học Trịnh Thị Tuyết là giáo viên trường THPT Chu Văn An – Hà Nội. Cô đã từng đoạt giải Nhất thi Giáo viên giỏi môn Ngữ văn cụm Ba Đình – Tây Hồ, thành phố Hà Nội; Giải Nhất thi Giáo viên giỏi môn Ngữ văn thành phố Hà Nội năm 2004.

Tiến sĩ Tuyết có trên 30 năm kinh nghiệm luyện thi đại học, cao đẳng môn Ngữ văn và nhiều học sinh đỗ đại học với số điểm cao tại các trường đại học danh tiếng trên cả nước.

Những bài giảng được cô Tuyết sắp xếp mạch lạc, hệ thống theo các luận điểm phù hợp với những yêu cầu của việc đảm bảo tính khoa học, tính thẩm mĩ, tính giáo dục và tính thực tiễn.

Mời thí sinh và bạn đọc xem bài giảng: “Phân tích nhân vật quản ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân”:

Dàn bài chi tiết về “Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Quản ngục trong tác phẩm “Chữ người tử tù”- Nguyễn Tuân”

I. Mở bài
– Giới thiệu tập truyện ngắn Vang bóng một thời.
– Giới thiệu truyện ngắn “Chữ người tử tù”.
– Giới thiệu nhân vật Quản ngục- vẻ đẹp của một thanh âm trong trẻo.
II. Thân bài
– Giới thiệu qua về tác phẩm, nhân vật.
– Giới thiệu tình huống truyện làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật.
1. Quản Ngục- một thanh âm trong trẻo, con người bị đặt nhầm chỗ.
– Cách xuất hiện:
+. Quản Ngục được giới thiệu ngay ở phần đầu tác phẩm trong cuộc trò chuyện với thầy thơ lại. Cái tên HC xuất hiện trong phiến trát khiến Quản Ngục ngờ ngợ, ông hỏi thầy thơ lại về HC với thái độ quan tâm, mến mộ một cách kín đáo.
” Chỉ một chi tiết nhưng cũng đủ để người đọc có những ấn tượng đầu tiên về nhân vật. Sự quan tâm đặc biệt dành cho HC và nhất là cái tài viết chữ “nhanh và đẹp” của kẻ tử tù như một sự chuẩn bị trước của nhà văn để gây ấn tượng về nhân vật.
– Từ cách giới thiệu ban đầu đó, nhà văn đã giúp ta hiểu rõ hơn về nhân vật này. Trong đêm đầu tiên hình ảnh Quản Ngục được khắc hoạ với dáng ngồi tư lự “khuôn mặt băn khoăn ngồi bóp thái dương…”. Có lẽ trong lòng viên quản ngục có một tâm sự kín đáo. Quản Ngục băn khoăn bởi sự xuất hiện của HC trong nhà ngục cũng có nghĩa là một kẻ tài hoa sắp phải chịu án tử hình. Một nỗi tiếc nuối mơ hồ trước một ngôi sao chính vị sắp từ biệt vũ trụ. Một khao khát thầm kín “Có ông HC trong tay…chữ”.
– Chỉ đến khi nghĩ là sẽ đối đãi để Huấn Cao đỡ cực trong những ngày còn lại khuôn mặt Quản Ngục mới giãn ra “như mặt nước ao …”.
” Quản Ngục là một con người kín đáo, điềm tĩnh và ẩn chứa một nỗi niềm khó nói.
– Sống nơi nhà ngục tăm tối ở chỗ người ta thường đối xử với nhau bằng lừa lọc, tàn nhẫn thế mà Quản Ngục lại là một “tính cách dịu dàng…”, lại biết đọc “vỡ nghĩa sách thánh hiền từ ngày còn bé”. Quản Ngục thực sự là một kẻ bị đặt nhầm chỗ “một thanh âm …”.
2. Sự xuất hiện của Huấn Cao trong nhà ngục tỉnh Sơn là điều kiện để làm nổi bật bản chất tốt đẹp của con người này mà bấy lâu nay hoàn cảnh làm cho khuất lấp
– Cái đáng quý nhất ở Quản Ngục chính là sự nâng niu trân trọng cái đẹp và tấm lòng biệt nhỡn liên tài:
+/. Sự nâng niu trân trọng cái đẹp: Huấn Cao xuất hiện đã làm thức dậy niềm khao khát bấy lâu của Quản Ngục là “được treo ở nhà riêng một đôi câu đối” do chính tay Huấn Cao viết. Khao khát có được chữ của Huấn Cao khiến Quản Ngục dám làm những điều có thể nguy hại tới tính mạng.
” Sở nguyện cao quý của Quản Ngục giúp ta hiểu hơn con người Quản Ngục. Con người biết qúy trọng nâng niu cái đẹp hẳn không phải là một người xấu.
+/. Tấm lòng biệt nhỡn liên tài:
• Nói về kẻ tử tù với một thái độ kính trọng không che giấu “Tôi nghe …rất đẹp đó không?”
• Cảm thấy tiếc nuối khi biết Huấn Cao sắp phải từ giữ cõi đời: “Bấy nhiêu …vũ trụ”.
• Dũng cảm biệt đãi Huấn Cao để Huấn Cao đỡ khổ hơn trong những ngày cuối cùng còn lại ngay cả khi bị Huấn Cao coi thường, khinh bỉ.
” Đọc CNTT không chỉ thấy thái độ không biết sợ của Huấn Cao đẹp mà thái độ biết sợ của Quản Ngục cũng đẹp không kém. Thái độ không biết sợ của Huấn Cao là cái đẹp của khí phách anh hùng. Thái độ biết sợ của Quản Ngục là cái đẹp của thiên lương trong sáng.
3. Sự gặp gỡ của viên Quản Ngục với Huấn Cao chính là sự gặp gỡ của những nhân cách cao đẹp khiến cho cảnh cho chữ càng giàu ý nghĩa
– Cảnh cho chữ lại diễn ra trong một nơi nhà ngục “đêm hôm đó trong trại giam tỉnh Sơn, ở một không gian chật hẹp, ẩm tối: “tường đầy mạng nhện…”. Nhưng giữa không gian chật hẹp đó với bút pháp tương phản nhà văn đã gây ấn tượng cho người đọc với hình ảnh tráng lệ, nổi lên giữa không gian tăm tối là bó đuốc tẩm dầu …là tấm lụa trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ…và mùi thơm của chậu mực. Ánh sáng từ ngọn đuốc, ngọn lửa như xua đi khung cảnh tăm tối ảm đạm chốn lao tù.
– Những nét vẽ như khắc như chạm đã vẽ lên một hình ảnh hào hùng “Một người tù…” cạnh đó là thầy thơ lại và Quản Ngục. Sự khúm núm, run run không phải là biểu hiện của sự hèn nhát mà là thái độ ngưỡng vọng trước cái đẹp, cái tài.
– Động tác của họ ăn ý nhịp nhàng “Huấn Cao…” thể hiện sự thấu hiểu tận đáy lòng.
” Không còn nhà ngục, không còn kẻ tử tù, không còn viên quan coi ngục nắm quyền sinh quyền sát trong tay, chỉ còn lại những dòng chữ tươi tắn.
– Những lời khuyên chân thành và thái độ ân cần của Huấn Cao đã làm cho Quản Ngục bừng tỉnh, vái lạy người tù. Có cái vái lạy làm cho con người ta trở nên thấp hèn, nhưng cũng có cái vái lẫy khiến tầm vóc con người lớn lao hơn. Và cái vái lạy của Quản Ngục trước Huấn Cao là một cái vái lạy tôn cao nhân cách. Đó là cái vái lạy trước cái đẹp.
“Quan niệm nghệ thuật của nhà văn: trong mỗi con người đều có một người nghệ sĩ, đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài. Không phải ai cũng xấu hết, bên cạnh phần ác quỷ vẫn có “thiên lương”.
Cái đẹp tồn tại cả trong môi trường của cái ác, cái xấu, nhưng không vì thế mà nó lụi tàn mà nó càng mạnh mẽ và bền bỉ như hoa sen giữa đầm lầy.
4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
– Đặt nhân vật vào tình huống giàu kịch tính.
– Thủ pháp tương phản đối lập.
– Vốn văn hoá cổ và ngôn ngữ điêu luyện tạp nên sự hấp dẫn và net riêng cho nhân vật.
III. Kết bài
– Đáng giá thành công của tác phẩm, tài năng của nhà văn.
– Vẻ đẹp, ý nghĩa của hình tượng nhân vật.

Bài văn mẫu

Nếu như nhân vật Huấn Cao là biểu tượng về cái đẹp với sức mạnh hướng thiện của nó, thì nhân vật viên quản ngục được sáng tạo ra là để hiện thực hóa sức mạnh ấy. Có viên quản ngục thì ý đồ nghệ thuật của nhà văn mới thực hiện được. Nhưng vai trò cực kì quan trọng ấy của nhân vật quản ngục không dễ nhận ra, bởi vì nhân vật này dường như được Nguyễn Tuân “giấu” đi, ẩn xuống hàng thứ hai đằng sau nhân vật Huấn Cao. Cảm giác ban đầu khi đọc Chữ người tử tù, người đọc choáng ván, ngập trong ánh sáng tỏa ra từ hình tượng Huấn Cao uy nghi, rực rỡ. Từng dòng chữ, từng trang sách cứ lấp lánh Huấn Cao. Người đọc chẳng thiết nghĩ điều gì khác ngoài nghĩ về Huấn Cao. Nhưng đọc thêm một vài lần nữa, gấp trang sách lại, ngẫm nghĩ kĩ, thấy nhân vật quản ngục từ từ hiện lên, ngày một rõ nét và cuốn hút ta bằng một sức mạnh kì lạ. Ta càng thấm thía, cảm phục ngòi bút tài hoa, thâm thúy của Nguyễn Tuân. Khi được khám phá, phát hiện, nhân vật quản ngục sẽ đem lại cho ta nhiều khoái cảm thẩm mĩ mới mẻ, thú vị.

Tính cách của nhân vật Huấn Cao có phần một chiều, bất biến và đơn giản, ít những bất ngờ. Trái lại, nhân vật viên quản ngục có sự vận động về tính cách. Trước khi là quản ngục, ông ta cũng là người đèn sách, “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”. Là người lương thiện, tử tế, lại có chữ thánh hiền bồi đắp cho “thiên lương” nảy nở tốt đẹp, ông ta yêu đến say mê cái đẹp, “cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”.

Nhưng sự đời run rủi, và “ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”, quản ngục sa vào chỗ tối tăm, phẩm chất từ đó đã hoen ố đi ít nhiều. Giữa chốn tù ngục hầu như chỉ tồn tại hai thứ : cái ác, cái xấu, tàn nhẫn, lừa lọc và những nỗi đau khổ, tuyệt vọng. Tình cờ, viên quản ngục gặp được ông huấn Cao, gặp thần tượng của mình, gặp trong hoàn cảnh cực kì éo le : giữa chốn ngục thất, thần tượng của ông giờ đây lại là một tử tù, còn ông là cai ngục. Một tình huống đầy kịch tính được mở ra : ở bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau ; ở bình diện nghệ thuật, họ lại là tri âm, tri kỉ của nhau. Kẻ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình lại là một nghệ sĩ tài hoa tầm cỡ “thiên hạ đệ nhất thư pháp”, kẻ đại diện cho luật pháp của triều đình lại là người có “tấm lòng biệt nhỡn liên tài”’ ngưỡng mộ tài thư pháp ấy. Cuộc “kì ngộ” khiến cho lòng yêu cái đẹp trong quản ngục sống dậy mãnh liệt tới mức ông có thể bất chấp cả tính mạng và địa vị, mong sao có được mấy chữ của ông Huấn.

Người đọc hồi hộp theo dõi từ đầu chí cuối tác phẩm, không biết quản ngục có xinh nổi chữ của ông Huấn hay không ? Nhân vật quản ngục bị đặt vào một thử thách khá gay go quyết liệt. Mấy ngày ngắn ngủi ông Huấn Cao tạm bị giam trong ngục tử tù của y, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô cùng căn thẳng, hồi hộp. Y thừa biết tính ông Huấn “vốn khoảng, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Làm sao đây, chỉ trong ít ngày để có thể lấp đầy khoảng cách giữa “cai ngục” và “tử tù”, để thành “tri kỉ” của ông Huấn ? “Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất”. Mặt khác, viên quản ngục luôn luôn phải dò xét, đề phòng cả bọn thuộc hạ, ông sợ “tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên”, ông phải “dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu”.

Nhân vật viên quản ngục được xây dựng với bút pháp giàu chất hiện thực, gần với cuộc đời hơn, thật hơn. Và chính ở đây thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Đọc truyện, người đọc như thấy hiện ra trước mắt dáng đi, điệu đứng, lời ăn tiếng nói của viên quản ngục này. Lúc ở công đường, dáng điệu của y rõ bệ vệ, quan cách, oai phong, trầm tĩnh, rõ là chu đáo, cần mẫn trong công việc. Tiếp được công văn để lĩnh nhận sáu tên tù án chém, ông ta đọc tên từng người và dừng lại ở cái tên Huấn Cao, rồi hỏi viên thơ lại để xác minh cho rõ. Nhân vật viên quản ngục không chỉ là kẻ biết thi hành phận sự, cần mẫn, tận tụy, mà còn là nhân vật có đời sống nội tâm sâu sắc. Có lúc khuôn mặt tỏ rõ sự nghĩ ngợi đăm chiêu, “ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”, “người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”.

Trong nhận xét rất tinh tế của người dẫn truyện thì viên quản ngục có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”. Ông được coi “là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”, là “cái thuần khiết” bị đày ải “vào giữa một đống cặn bã”, là “người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Là quản ngục, nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của cái nhà tù do ông cai quản. Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận của một ngục quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm hồn quản ngục suốt đời. “Lũ người quay quắt”, cái “đống cặn bã” bao quanh ông chẳng khác gì nơi buồng tối giam tử tù “một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đã có lúc, ngục quan thấm thía thân phận lạc loài, cô đơn giữa chốn tù ngục của chính mình, y than thở một mình : “Có lẽ lão bá này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”. Nếu như bi kịch của ông Huấn là bi kịch của người anh hùng thất thế, thất thế nhưng vẫn kiêu hùng, lẫm liệt ; thì bi kịch của ngục quan là bi kịch lầm đường. kẻ lầm đường lạc lối, may thay, vẫn còn có lương tri, lương năng, còn có “lòng biệt nhỡn liên tài”, còn có khát vọng giải thoát. Y tôn thờ cái đẹp, say mê cái đẹp để hi vọng tự giải thoát. Lúc ngục quan gặp huấn Cao thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”, “bộ mặt tư lự” đã hằn nhiều nếp nhăn của cuộc đời “tù nhân” nhọc nhằn, nhưng khát vọng giải thoát biểu hiện ở khát vọng hướng tới cái đẹp vẫn mãnh liệt vô cùng. Âm ỉ bấy lâu, nay nó bùng cháy lên thành lửa ngọn. Ngục quan tự hạ mình xuống trước tử tù, nhẫn nhục chấp nhận sự “khinh bạc đến điều” của ông Huấn. Y không oán thù, y biết người ta, “y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”. Về bản chất, đó là sự ngưỡng mộ trước cái đẹp một cách hoàn toàn tự nguyện. Hành động biệt đãi ông Huấn cũng là xuất phát từ lòng say mê đó. Nhưng đến cuối tác phẩm thì không chỉ còn là chuyện say mê, tôn thờ mấy cái chữ đẹp nữa, mà cao hơn thế, đó là sự trân trọng, tôn thờ nhân cách cao quý của một bậc tài danh. Bị cái đẹp và nhân cách cao thượng của ông Huấn thuyết phục, viên quản ngục thực sự cảm động cũng giống như ông Huấn Cao đã cảm động trước “sở thích cao quý” và “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của ngục quan. Đó là điểm gặp gỡ để trở thành tri âm, tri kỉ của hai con người cách nhau quá xa về vị trí xã hội. Sự tri kỉ ấy được đánh dấu bằng dòng lệ và tiếng nói nghẹn ngào : “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” và kèm theo một cái vái.

Vận mệnh nghệ thuật của tính cách ông Huấn Cao đã kết thúc cùng với sự kết thúc của thiên truyện ; trong khi đó, vận mệnh vẫn còn tiếp tục ở nhân vật viên quản ngục : người đọc có thể tin rằng sau những lời khuyên bảo ân cần của ông Huấn, viên quản ngục đã luống tuổi ấy sẽ từ bỏ nghề bất nhân về quê ở để giữ thiên lương cho trong sạch, lành vững.

Nhân vật viên quản ngục là một sáng tạo rất mực sinh động của Nguyễn Tuân, để vừa tô đậm vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật Huấn Cao, lại vừa thể hiện vẻ đẹp của một con người đang được dắt dẫn bởi cái đẹp và cái thiện. Đây là kiểu sáng tạo nhân vật rất mới trong văn học hiện đại Việt Nam, cái cách để cho nhân vật tự tạo tính cách.

Bài văn mẫu số 2:

Quản ngục không chỉ là một hình tượng độc đáo mà còn là nhân vật hội đủ những đặc điểm chung nhất của Vang bóng một thời, của quan niệm và phong cách Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân với những trang anh hùng dũng liệt hiện lên dưới một 1 lớp ngôn ngữ dân tộc thuần khiết và chuẩn mực, luôn cố gắng hết sức mình để làm sống dậy một thời quá khứ rực rỡ. Và dường như cảm thấy mình không đủ sức. Nguyễn Tuân kéo cả những nhân vật của mình theo khuynh hướng ấy. Đó là trường hợp của viên quản ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” (trong tập Vang bóng một thời).

Quản ngục: không phải là một anh hùng cao đẹp như Huấn Cao, lại càng không mang dáng vóc, tính cách của một tên đao phủ khát máu (Bữa rượu máu). Con người đó là một hình ảnh trung gian giữa cái đẹp và cái không đẹp. Dưới ngòi bút tài hoa của một bậc thầy về ngôn ngữ, hình ảnh trung gian ấy cũng mập mờ, không có ranh giới rõ rệt.

Thoạt nhiên, viên quản ngục có vẻ như là một con người cam chịu, yên phận và cũng chẳng có gì khác những kẻ cùng địa vị đương thời: “Chuyện triều đình quốc gia chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời”. Cái khuôn khổ phong kiến, cái “phép nước” đã khiến quản ngục quen với việc nhận tù, giao tù, với “những mánh khóe hành hạ thường lệ”. Những lúc ấy, viên quản ngục cứ lạnh lùng như một cỏ may, ngoan ngoãn như một tên nô lệ trung thành với vai trò cùa mình.

Nhưng có ai ngờ, bên trong con người đó vẫn luôn tồn tại một mầm sống tươi xanh của cái đẹp. Cái mầm ấy bị đè bẹp nhưng vần khắc khoải sống như chờ đợi một lúc nào đó được vươn lên. Rồi thời điểm đó cũng đến. Huấn Cao, con người văn võ song toàn xuất hiện với “cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Quản ngục bắt đầu rơi vào một tâm trạng hết sức khó xử. Một sự đấu tranh âm thầm trở thành nét tiêu biểu cho quản ngục suốt truyện mà cũng chính là biểu hiện tiêu biểu cho quản ngục suốt truyện mà cùng chính là biểu hiện tiêu biểu cho tính “hướng nội” mỗi chúng ta thường bắt gặp trong tác phầm của Nguyễn Tuân.

Cuối cùng thì niềm đam mê cái đẹp cũng đã chiến thắng. Tuy cái chiến thắng đó chưa phải là tuyệt đối nhưng vẫn đủ biến viên quản ngục thành một con người khác. “Bấy nhiêu âm thanh phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”, “Ngôi sao chính trị” dĩ nhiên là ám chỉ Huấn Cao. Còn “thanh âm phức tạp” ngầm chỉ ai? Con người ấy chính là quản ngục. Quản ngục muốn nâng niu cái đẹp nhưng lại sợ. Vì thế nên Nguyễn Tuân đã để cho nhân vật này hóa thân thành một cái gì đó vô hình, hư ảo. Chi tiết đó vừa bộc lộ nét mạnh của Vang bóng một thời lãng mạn và khao khát đánh thức cái đẹp, vừa để lộ thấp thoáng điểm yếu và sự yếu đuối của Nguyễn Tuân trong cái nhìn hoài vọng xa xôi. Nó khiến Nguyễn Tuân như tránh né, đem ông trời ra mà trách: ‘‘Ông trời nhiều khi chơi ác đem đày ải những cái thuần khiết giữa một đống cặn bã”.

Cũng từ ý niệm ấy, quản ngục nghĩ mình “chọn nhầm nghề mất rồi”, Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp và đã tìm ra cái đẹp long lanh, mong manh giữa một vùng trời đen tối.

Việc miễn những mánh khóe hành hạ, biệt đãi những người tử tù, rồi bạo dạn xin chữ, một cách khéo léo từng chút từng chút gắn thêm nét đẹp vào con người quản ngục bởi vì: “Biết người tài, không phải là kẻ xấu”. Mặc dù vậy khi đã biệt đãi, đã toan tính cách xin chữ, quản ngục vẫn còn sợ, vẫn dặn viên thơ lại nói với Huấn Cao: “Miễn là ngài giữ kín cho”. Một chi tiết nhỏ nhưng chắc là không thể thiếu. Một chi tiết vừa lãng mạn vừa hiện thực. Mến cái tài của Huấn Cao nhưng sợ “phép vua”. Phải tinh tế lắm. Nguyễn Tuân mới phát hiện ra điều đó. Phải tài hoa lắm Nguyễn Tuân mới thể hiện được điều đó. Nếu không viết về nỗi sợ ngấm ngầm thì là không thật, mà Nguyễn Tuân lại là con người luôn vươn tới cái đẹp, cái thật. Nếu viết quá nhiều thì sẽ làm ngắt quãng mạch chuyển biến đang cuồn cuộn, sôi sục trong nhân vật hình tượng.

Mến cái tài của Huấn Cao, khát khao “có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”, đến lúc này, quản ngục dường như không còn là quản ngục mà là hóa thân của Nguyễn Tuân với nhịp tim và hơi thở dành trọn cho sự nâng niu cái đẹp. “Một buổi chiều lạnh, viên quản ngực tái nhặt người đi sau khi tiếp đọc công văn”. Không còn là thương tiếc, xót xa mà đã đạt đến đỉnh điểm của niềm đau xót, thẫn thờ. Việc nhận công văn, quản ngục biết trước nhưng vẫn thấy đột ngột, hụt hẫng. Thiên lương vừa sóng dậy trong một con người đã thúc giục quản ngục hành động. Một. hành động trái ngược với những gì quản ngục nói: “Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép trước”.

Tình yêu cái đẹp đến đam mê đã đánh thức khí phách tiềm tàng nằm im suốt bao nhiêu năm.

Trong cảnh cho chữ hùng vĩ, có một chi tiết đáng nhớ: “Người tù viết xong một chữ viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẻm đánh dấu ô chữ đặt lên phiến lục ông”, “khúm núm” không phải chỉ vì nịnh bợ mà là vì cảm phục. Khi sự cảm phục lên đến đỉnh điểm cũng là lúc kết thúc truyện. “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Một nghệ thuật tài hoa, kết thúc truyện ở cao trào. Chính nghệ thuật độc đáo đó đã nêu bật cái đẹp toàn diện, toàn mỹ và rất đặc sắc của cả người xin chữ và người cho chữ.

Dọc theo suốt chiều dài của truyện, nhân vật quản ngục luôn tồn tại với một ý nghĩa nhất định. Quản ngục không chỉ là một hình tượng độc đáo mà còn là nhân vật hội đủ những đặc điểm chung nhất của Vang bóng một thời, của quan niệm và phong cách Nguyễn Tuân: lãng mạn mà vẫn hiện thực, là tiếng nói của thiên lương, của tinh thần dân tộc, là biểu hiện của sự “yêu mến và than tiếc những cái đã qua và có sức làm sống lại một thời xưa cũ”

Phương pháp lấy điểm câu cực khó trong đề thi Sinh học về di truyền phả hệ

Thầy giáo, ThS. Đinh Đức Hiền, nghiên cứu sinh Viện Công nghiệp Thực phẩm, Bộ Công Thương sẽ hướng dẫn các em ghi điểm các câu hỏi khó trong đề thi Sinh học về di truyền phả hệ

Bài tập di truyền phả hệ là một câu hỏi khó/rất khó nhằm phân loại thí sinh. Điểm khác biệt của di truyền phả hệ là đối tượng trên người chứ không phải động vật hay thực vật, vì thế bài toán sẽ không có các tỉ lệ kiểu hình như phép lai trong bài tập quy luật di truyền, thay vào đó là kiểu hình và mối liên hệ giữa các thành viên trong phả hệ là căn cứ để giải quyết bài toán.

Thầy giáo Đinh Đức Hiền nhấn mạnh, khó khăn khi làm bài tập di truyền phả hệ không nằm ở tính toán mà mấu chốt là sự gây nhầm lẫn. Bài tập di truyền phả hệ trong đề thi có thể cho dưới 2 hình thức: lời văn hoặc sơ đồ phả hệ cho sẵn, nếu như là lời văn, cách tốt nhất là các em nên vẽ lại nó thành sơ đồ phả hệ một cách cẩn thận vào nháp, nếu vẽ sai thì sẽ không giải được bài toán còn không vẽ ra sẽ rất rối bởi các thông tin về mối quan hệ họ hàng giữa các cá thể trong phả hệ.

phuong-phap-lay-diem-cau-cuc-kho-trong-de-thi-sinh-hoc-ve-di-truyen-pha-he

Để làm tốt bài tập di truyền phả hệ, thầy Đinh Đức Hiền lưu ý 3 chủ điểm kiến thức mà học sinh cần nắm vững, như sau:

Thứ nhất, Quy luật Mendel về lai một cặp tính trạng: nắm vững dấu hiệu nhận biết trội lặn hoàn toàn hay không hoàn toàn của một tính trạng để từ đó suy ra alen gây bệnh là alen trội hay lặn, đương nhiên không được bỏ qua các tỉ lệ của các phép lai cơ bản, các em cần nắm rõ như bảng cửu chương vậy.

Thứ 2, Di truyền liên kết với giới tính: Các em đều học rằng nếu tính trạng phân bố không đồng đều ở hai giới và chủ yếu biểu hiện ở con đực thì gen quy định tính trạng nằm trên NST X (không có alen tương ứng trên Y), tuân theo quy luật di truyền chéo, tuy nhiên cái nhầm lẫn hay cái bẫy tiếp theo nằm ở đây, vì người không sinh sản nhiều, nếu như số lượng cá thể trong phả hệ ít mà các em áp dụng theo tỷ lệ đực: cái rất dễ dẫn đến sai lầm, vậy trong trường hợp này dấu hiệu di truyền chéo là tuyệt vời nhất: gen trên X từ bố phải truyền cho con gái, gen trên X ở con trai tất nhiên phải nhận từ mẹ.

Nếu gen gây bệnh nằm trên NST giới tính Y (không có alen tương ứng trên X) thì tuân theo quy luật di truyền thẳng (di truyềnluật t di truyền chéo cho 100 % cá thể có tổ hợp kiểu gen XY ), thường thì dạng này ít gặp trong đề thi do nó quá rõ ràng.

Thứ 3, Quy luật di truyền liên kết hoàn toàn và hoán vị gen: bài tập liên quan đến phần này ít có trong đề thi hơn, thông thường đề bài sẽ cho tính trạng nào liên kết với tính trạng nào rồi, còn có thể cho khoảng cách giữa các gen trên NST từ đó tính tần số HVG, các em không phải đi chứng minh, việc còn lại là tìm kiểu gen cơ thể theo yêu cầu đề bài. Các em cũng cần lưu ý thêm dạng này để tránh bỡ ngỡ khi đi thi.

Di truyền phả hệ thường được ra dưới 2 dạng bài tập sau: xác định kiểu gen cá thể trong phả hệ và tìm xác suất kiểu gen của cá thể trong phả hệ (cá thể đã được sinh ra hoặc dự đoán cá thể sinh ra).

Phương pháp chung để giải 2 dạng bài tập di truyền phả hệ là gì, trải qua những bước cụ thể nào, mời học sinh đón đọc ở phần 2.

Video ôn thi THPT Hóa học: Phương pháp giải bài tập sử dụng đồ thị – hình thí nghiệm

Nhằm giúp thí sinh dự thi kỳ thi THPT Quốc gia 2016 môn Hóa học đạt kết quả cao, thầy giáo Vũ Khắc Ngọc có bài giảng dưới dạng video: “Phương pháp giải các bài tập sử dụng đồ thị – hình thí nghiệm (phần 1)”, mời bạn đọc và thí sinh xem bài giảng:

Thầy giáo Vũ Khắc Ngọc từng tham gia đội tuyển thi Học sinh giỏi cấp Quốc gia môn Hóa học (năm 2004), là gương mặt trẻ tiêu biểu ĐH Quốc gia Hà Nội năm 2005. Đã xuất bản cuốn sách “16 phương pháp và kĩ thuật giải nhanh bài toán Hóa học”; 3 bài báo trên tạp chí Khoa học và Ứng dụng (Tạp chí của Hội Hóa học Việt Nam)…

on-thi-thpt-hoa-hoc-phuong-phap-giai-bai-tap-bang-do-thi

Thầy giáo Vũ Khắc Ngọc có phong cách giảng dạy, gắn lí thuyết với thực tế cuộc sống, sắp xếp nội dung giảng khoa học và sáng tạo khiến bài giảng trở nên dễ hiểu.

Video ôn thi THPT Quốc gia Hóa học: Phương pháp giải bài tập sử dụng đồ thị – hình thí nghiệm (phần 2)

Video ôn thi THPT Quốc gia Hóa học: Phương pháp giải bài tập sử dụng đồ thị – hình thí nghiệm (phần 2)

Cách ôn luyện và làm bài thi để đạt điểm cao môn Văn

Thạc sĩ Đỗ Trung Kiên Giáo viên Ngữ văn trường THPT Đoàn Thị Điểm sẽ chia sẽ cho các em học sinh Cách ôn luyện và làm bài thi để đạt điểm cao môn Văn.

Học sinh cần quan tâm đến một số vấn đề như: biển đảo và trách nhiệm của thế hệ trẻ với biển đảo đất nước; Gạc Ma – vòng tròn bất tử; thời cơ thách thức của Việt Nam khi gia nhập TPP; thực phẩm bẩn đang đầu độc người dân và lương tâm con người…
Kỳ thi THPT quốc gia đang đến rất gần, theo thông báo chính thức từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, cấu trúc đề thi hầu như không có sự thay đổi so với 2015. Chính vì thế, đây là thời điểm học sinh lớp 12 cần phải có kế hoạch ôn tập thật khoa học, kỹ năng làm bài thật tốt, đặc biệt là môn Ngữ Văn – môn thi bắt buộc.

Mỗi học sinh nên tập trung ôn tập về mặt kỹ năng và phương pháp làm 2 dạng bài: “Đọc hiểu văn bản” và kỹ năng về “Làm văn”.

cach-on-luyen-thi-de-dat-diem-cao-mon-van

Phần đọc hiểu văn bản: Cần quan tâm đến hiện thực đời sống

Các văn bản cần đọc hiểu đều nằm ngoài chương trình sách giáo khoa, là những văn bản hoàn toàn mới. Vì vậy cần rèn luyện các kỹ năng làm phần đọc hiểu, từ đó mới có thể giải quyết tốt phần này. Phần đọc hiểu cũng nên chú trọng đến các văn bản nghị luận, liên quan đến các vấn đề trên, hoặc đề cập đến các vấn đề về bảo vệ văn hóa dân tộc, thói sùng ngoại, bài ngoại, lòng tự trọng, lòng nhân ái khoan dung, thói vô cảm của con người, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt…

Bên cạnh đó, cũng cần quan tâm đến một số vấn đề như: biển đảo và trách nhiệm của thế hệ trẻ với biển đảo của đất nước; Gạc Ma – vòng tròn bất tử; thời cơ thách thức của Việt Nam khi gia nhập TPP; thực phẩm bẩn đang đầu độc người dân và lương tâm con người; ý thức con người về biến đổi khí hậu; ngập mặn, hạn hán ở đồng bằng sông Cửu Long, vai trò của nguồn nước trong cuộc sống; lý tưởng, lẽ sống, phẩm chất, sự thành đạt của tuổi trẻ, nghị lực sống của con người (qua các tấm gương Trần Lập, chú lính chì dũng cảm Nguyễn Thiện Nhân)…

Các em cũng nên chú ý đến văn bản thơ viết về biển đảo, lòng nhân ái và tình yêu quê hương đất nước. Từ đó, cần nắm vững kiến thức về các loại hình phong cách ngôn ngữ, phương thức hiểu đạt, thao tác lập luận, các dạng nghệ thuật tu từ và nêu tác dụng. Kiến thức đọc hiểu văn bản cũng yêu cầu viết những đoạn văn ngắn theo chủ đề mà ngữ liệu hướng tới.

Phần làm văn cần chú ý đến kỹ năng viết bài

Câu nghị luận xã hội cần rèn luyện thật tốt phương pháp và kỹ năng làm bài. Trên thực tế, đề về mảng này chủ yếu là vấn đề trong cuộc sống. Cần nắm vững các kỹ năng làm dạng đề nghị luận xã hội, cách làm phổ thông nhất.

Một bài nghị luận xã hội dù dung lượng không dài cũng vẫn phải đảm bảo cấu trúc của một bài làm văn, nghĩa là vẫn phải có mở đầu, thân bài và kết luận. Phần mở bài cần nêu được vấn đề trọng tâm mà đề ra yêu cầu. Phần thân bài, phải triển khai tiếp các luận điểm đã được nêu ra ở phần một. Và cuối cùng, phần kết luận, người viết phải đưa ra tổng kết của cá nhân về vấn đề đã nêu, đúng hay sai, bài học nào được rút ra cho cá nhân người viết?

Tóm lại, với một bài nghị luận xã hội, bố cục chung của bài làm nên lần lượt triển khai theo các bước sau đây:

• Ý 1: Nêu và giải thích ý kiến câu hỏi đề thi.

• Ý 2: Bàn luận mở rộng về ý kiến câu hỏi đề thi.

• Ý 3: Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân và cho mọi người.

Dạng câu hỏi nghị luận xã hội chỉ được cho tối đa 3 điểm, nên dung lượng bài viết cũng không nên quá dài. Trong yêu cầu cụ thể, đề thi có thể ghi rõ bài viết không vượt quá 600 từ, nghĩa là với khổ giấy thi được sử dụng chính thức như hiện nay, chỉ cần không quá 2 trang. Viết ngắn quả là khó hơn viết dài, thí sinh cần phải chú ý thời gian để không bị phân tán tư tưởng, tránh ảnh hưởng đến phần bài làm khác.

Câu làm văn: Ôn tập thật khoa học và nghiêm túc theo chương trình

Dạng đề chủ yếu những năm gần đây là: Phân tích cảm nhận văn học, so sánh và bình luận văn học.

Vì thời gian chỉ còn khoảng hai tháng nên mỗi học sinh cần phải biết cách ôn tập một cách khoa học. Trong tháng 5 nên tổng ôn kiến thức một cách nhanh nhất theo sơ đồ tư duy, nghĩa là hệ thống lại kiến thức thành các ý lớn, và các ý nhỏ; không nên học quá chi tiết, cụ thể. Đồng thời, cần ôn lại phương pháp, kỹ năng làm bài thi. Ngoài phương pháp, kỹ năng như trên, học sinh nên tập trung ôn tập kỹ các văn bản lớp 12, gồm 14 văn bản từ “Tuyên ngôn Độc lập” đến “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”.

Trong tháng 6 nên tập trung vừa ôn tập các trọng tâm do kế hoạch của nhà trường đề ra; vừa kết hợp luyện đề thi, thi thử và rút kinh nghiệm. Từ chỗ vận dụng các kỹ năng, phương pháp và kiến thức để làm thử các đề thi, khi chữa đề, chúng ta sẽ kịp thời rút kinh nghiệm để khắc phục những hạn chế. Càng có nhiều cơ hội làm bài thi thử càng tốt. Đây là hình thức củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phương pháp làm bài. Có thể tích cực mở rộng bằng cách lên mạng tìm các đề khảo sát rồi tự làm bài, nhờ thầy cô giáo của mình chấm hoặc kiểm tra giúp, từ đó mới phát hiện ra những lỗi và điểm yếu để có thể bổ sung kịp thời.

Video hướng dẫn kỹ năng sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm

Thạc sĩ Nguyễn Bá Tuấn – Giảng viên trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội đã chia sẻ bài giảng thú vị giúp học sinh đang ôn thi THPT Quốc Gia hiểu rõ hơn về sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm để giải nhanh các bài toán trắc nghiệm trong đề thi đánh giá năng lực.

Giải đáp 50 câu hỏi môn Toán trong thời gian 80 phút (thời gian trung bình 1.6 phút/câu) là vấn đề khó khăn mà đa số thí sinh dự thi bài thi đánh giá năng lực gặp phải. Máy tính bỏ túi là vật dụng không thể thiếu khi thí sinh làm bài môn Toán và đặc biệt là cần thiết khi làm bài thi đánh giá năng lực.

ky-nang-su-dung-may-tinh-bo-tui-trong-bai-thi-trac-nghiem

Với hơn 10 năm kinh nghiệm giảng dạy với nhiều học sinh đỗ đạt cao, thầy giáo Nguyễn Bá Tuấn có phong cách giảng dạy chú trọng tới phát triển tư duy của học sinh, giúp người học vận dụng các kiến thức, phương pháp tư duy đã học để áp dụng sang các bài toán khác nhau.

Kỹ năng sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm phần 1

Kỹ năng sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm phần 2