Đáp án đề thi môn Văn THPT Quốc Gia năm 2016

0
3715

Đề thi môn Văn THPT Quốc Gia năm 2016
de-thi-mon-van-thpt-quoc-gia-nam-2016-11 de-thi-mon-van-thpt-quoc-gia-nam-2016-22

Các em xem chi tiết đề thi ở dưới đây

(Gợi ý lời giải môn Ngữ văn THPT quốc gia 2016 do giáo viên trường THPT Quốc tế Việc Úc (Hà Nội) thực hiện.
Câu 1 (0.25 điểm):

Sự mượt mà và tinh tế của Tiếng Việt được thể hiện ở những từ ngữ sau:

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ, tiếng Việt như bùn và như lụa, óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Câu 2 (0.25 điểm):

Hai biện pháp tu từ: So sánh và ẩn dụ

– So sánh: tiếng tha thiết nói thường nghe như hát, Như gió nước không thể nào nắm bắt.

– Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối.

Câu 3 (0.5 điểm):

Nội dung chính của đoạn trích:

Đoạn trích thể hiện sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt. Qua đó bày tỏ niềm tự hào của tác giả Lưu Quang Vũ về vẻ đẹp và giá trị của ngôn ngữ dân tộc.

Câu 4 (0.5 điểm):

Từ đoạn trích bày tỏ cảm nghĩ của mình về tiếng Việt:

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính để tạo ra bản sắc riêng của dân tộc, là thành quả đáng tự hào của người Việt Nam trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước. Tiếng Việt của chúng ta mượt mà, tinh tế, giúp chúng ta không chỉ giao tiếp mà còn bày tỏ tiếng nói, tâm tư, tình cảm.

Hơn nữa, ngôn ngữ là một phần khẳng định chủ quyền độc lập của Tổ quốc ta. Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh, cha ông ta đã giữ gìn tiếng mẹ để đến hôm nay. Vì thế chúng ta cần trân trọng, phát huy cái hay và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Câu 5:

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 6:

Vẻ bề ngoài đẹp đẽ của “cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình” thể hiện rõ nhất qua hình ảnh so sánh: “một cuộc sống nghèo nàn, giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng”.

Câu 7:

Tác giả cho rằng: “Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn” vì cuộc sống của những cá nhân như vậy sẽ nghèo nàn, nhàm chán với một hạnh phúc mong manh.

Đó là một cuộc sống thiếu khát vọng, không có sự khẳng định, dấu ấn cá nhân, chỉ an toàn trong một “mảnh vườn” sạch sẽ, gọn gàng. Cuộc sống khép kín sẽ khiến con người trì trệ, khó thích nghi khi bị giông bão tràn đến, và hơn nữa sẽ khiến ta chìm trong cô đơn, buồn phiền, chán nản.

Câu 8:

Cuộc sống của con người khi thoát ra khỏi “cái tuyệt đối cá nhân”:

– Khi thoát ra khỏi cuộc sống cá nhân êm đềm, bằng phẳng trong ngưỡng cửa nhà mình, con người sẽ vươn ra cuộc đời rộng lớn bên ngoài ngưỡng cửa. Đó là một cuộc sống nhiều thử thách, phong ba nhưng là một cuộc sống đích thực mà mỗi người cần vươn đến: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”.

– Con người sẽ phải đối mặt với chông gai, khó khăn nhưng đó sẽ là cơ hội để con người khẳng định năng lực, bản lĩnh, khát vọng, ước mơ của mình.

– Khi được trải nghiệm, dấn thân: con người sẽ mạnh mẽ, kiên cường, dũng cảm hơn. Đó là yếu tố rất quan trọng để chạm đến thành công.

– Cuộc sống thử thách với nhiều khát vọng sẽ cho mỗi người cảm nhận được giá trị thực sự của cá nhân mình: “Hãy luôn khát khao, hãy cứ dại khờ”.

Phần II:

Câu 2:

Về hình thức: 0,5 điểm

Đảm bảo cấu trúc của bài nghị luận: có đủ ba phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

Về sáng tạo: 0,5 điểm

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

Về nội dung:

Xác định đúng vấn đề nghị luận: (0,5 điểm)

Phân tích tình huống truyện của tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân để làm sáng tỏ ý kiến: Trong truyện ngắn vợ nhặt nhà văn Kim Lân đã xây dựng được một tính huống bất thường để nói lên khát vọng bình thường mà chính đáng của con người.

Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm, thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Cụ thể như sau: (2,5 điểm)

– Mở bài:

+ Giới thiệu tác giả Kim Lân, tác phẩm “Vợ nhặt”: Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là cây bút “một lòng đi về với đất với người, với thuần hậu nguyên thủy ở nông thôn Việt Nam”.

Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. “Vợ nhặt” là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông

+ Giới thiệu nhận định: Trong truyện ngắn vợ nhặt nhà văn Kim Lân đã xây dựng được một tính huống bất thường để nói lên khát vọng bình thường mà chính đáng của con người.

+ Giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý kiến trên đã chỉ ra cái hay của tình huống truyện trong tác phẩm “Vợ nhặt”

– Thân bài:

+ Khái quát truyện “Vợ nhặt”: “Vợ nhặt” được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Tiền thân của truyện vốn là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” (cuốn tiểu thuyết được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo).

Hoà bình lập lại, Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này. “Vợ nhặt” mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kỹ lưỡng về nghệ thuật.

Với “Vợ nhặt”, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kỳ hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng.

+ Giải thích ý kiến:

~ Tình huống bất thường: Là tình huống đặc biệt, mang tính nghịch cảnh, éo le, trớ trêu được tạo dựng trên cơ sở những mâu thuẫn.

~ Khát vọng bình thường: Khát vọng là những mong muốn mãnh liệt mang tính nhân bản, bản chất trong mỗi con người. Đó là quyền sống, mưu cầu hạnh phúc và được sống cho ra sống.

+ Tình huống nghệ thuật bất thường trong truyện ngắn:

~ Tình huống xuất hiện ngay từ nhan đề: Nhan đề ấn tượng sâu sắc, kích thích trí tò mò, chú ý của người đọc, hé mở tình huống đặc sắc của tác phẩm. Nhặt là một động từ chỉ những hành động ngẫu nhiên, thờ ơ, không chủ tâm để lấy một vật gì đó thường là từ dưới đất lên, một vật hoặc quá nhỏ bé nên không ai để ý hoặc không còn giá trị nên bị người ta vứt bỏ.

Vợ là một phần quan trọng của cuộc đời người đàn ông, lấy vợ là một trong những việc lớn của đời người, một việc thường được thực hiện theo phong tục truyền thống của ng Việt với các bước mai mối, dạm hỏi, cưới xin… trang trọng.

Nhưng với từ nhặt làm định ngữ vợ nhặt đã khiến ng đọc phần nào suy đoán được giá trị của ng vợ khi được nhặt về chẳng khác nào cỏ rác; cũng đồng thời hình dung được tình cảnh của ng chồng khi một việc lớn lao, trọng đại của đời ng lại được thực hiện bởi một hành động ngẫu nhiên, thờ ơ và không chủ tâm như vậy.

Tóm lại, nhan đề hàm chứa sự mâu thuẫn, éo le đã góp phần thể hiện những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm, giúp nhà văn phản ánh tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của những ng nông dân nghèo trong nạn đói năm 1945.

~ Tình huống được tạo dựng trên cơ sở những mâu thuẫn, trớ trêu được đẩy đến tận cùng giới hạn. Sự trớ trêu đầu tiên xuất hiện ở nhân vật Tràng – chủ thể của hành động nhặt vợ.

Tràng là người mà ngay trong hoàn cảnh bình thường cũng ít có khả năng lấy được vợ – hắn là dân ngụ cư với địa vị lép vế trong làng xã, lại nghèo khổ, xấu xí, thô kệch và hơi dở tính. Vậy mà Tràng lại lấy được vợ, thậm chí chóng vánh, dễ dàng đến mức chính hắn cũng không tin nổi. Sự trớ trêu thứ hai đặt ra ở hoàn cảnh nhặt vợ của Tràng.

Hôn nhân là biểu tượng của cuộc sống gia đình, của sự sinh con đẻ cái, của sự sống. Vậy mà việc nhặt vợ của Tràng lại diễn ra vào thời điểm khủng khiếp nhất của nạn đói Ất Dậu, khi xóm ngụ cư của Tràng bao trùm không khí chết chóc lạnh lẽo.

Tình huống éo le đã được tạo ra bởi sự đối đầu khốc liệt giữa sự sống và cái chết, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa hy vọng và tuyệt vọng, giữa ấm áp của tình người với lạnh lẽo thê lương của chết chóc…

Tình huống trớ trêu ấy đã gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người dân: xóm ngụ cư thì thầm phỏng đoán, bà cụ Tứ không tin nổi vào mắt và tai mình; và ngay cả Tràng cũng ngờ ngợ, bàng hoàng như đang trong một giấc mơ.

+ Giá trị của tình huống:

~ Khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn và góp phần thúc đẩy cốt truyện phát triển.

~ Giúp nhà văn phản ánh chân thực bức tranh hiện thực của làng quê: cảnh xóm ngụ cư ngập tràn âm khí là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Việt Nam trong nạn đói 1945.

Bề sâu của hiện thực là cái đói khiến giá trị của con người trở nên rẻ rúng, những điều đẹp đẽ thiêng liêng như hạnh phúc gia đình – một đám cưới trở nên bi hài, chua chát.

Đói khát khiến con người thay đổi và bị hủy hoại từ hình hài đến nhân cách, con người không được sống cho ra con người. Tràng và thị nên vợ nên chồng chỉ bằng một câu hò vu vơ và bốn bát bánh đúc.

~ Giá trị của tình huống truyện đặc biệt đã thể hiện những nét sâu đậm nhất của tư tưởng nhân đạo trong việc khẳng định, ngợi ca, trân trọng những khát vọng bình thường mà chính đáng của con người. Điều này được bộc lộ được vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật qua diễn biến tâm trạng và hành động của họ trước việc Tràng nhặt vợ:

* Tình huống truyện đã cho thấy cái đói và cái chết không làm con người ta mất đi lòng nhân ái: thể hiện trong việc nhặt vợ của Tràng – chia sẻ miếng ăn với người xa lạ, đói khát; trong cách Tràng đối xử và suy nghĩ về người phụ nữ đi theo mình đầy yêu thương không hề rẻ rúng.

Đặc biệt là sự ứng xử và nỗi niềm của bà cụ Tứ với người con dâu. Chấp nhận người đàn bà xa lạ, coi là dâu là con, lo lắng, yêu thương, chia sẻ với người khác trong hoàn cảnh khốn cùng là biểu hiện cao nhất của tinh thần lá lành đùm lá rách.

* Tình huống truyện giúp người đọc nhận ra khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người không bị mất đi mà mãnh liệt hơn bao giờ hết: Tràng quyết định nhặt vợ sau một thoáng phân vân do dự, cảm giác mới mẻ hạnh phúc, trạng thái êm ái lửng lơ trong lòng Tràng sau khi có được vợ.

Khuôn mặt rạng rỡ chung vui của người dân xóm ngụ cư. Nét mặt nhẹ nhõm, tươi tỉnh của bà cụ Tứ. Thị theo Tràng về nhà lúc đầu vì miếng ăn nhưng khi biết gia cảnh thực sự của Tràng, thị đã không hề chạy trốn mà ở lại và mang lại sinh khí cho gia đình đó, bản thân thị cũng trở lại hình ảnh một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, vợ hiền dâu thảo…

Tất cả là biểu hiện rõ nhất của niềm khát khao hạnh phúc mang tính bản năng, thường trực bị khuất lấp bởi cái đói đã xuất hiện một cách đầy bất ngờ. Chính khát vọng hạnh phúc lại mang đến cho họ sức mạnh vượt lên trên cái đói và cái chết.

* Tình huống truyện đã khẳng định đói, khát không làm con người mất đi hi vọng vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp: Những câu nói đầy lạc quan của bà cụ Tứ với đôi vợ chồng trẻ; Tràng mua hai hào dầu thắp sáng gian nhà trong đêm tân hôn nhưng cũng là sua tan bóng tối ngập đầy trong truyện ngắn; cảnh thu dọn nhà cửa vào sáng hôm sau… là những chi tiết cho thấy những người lao động đói khổ không bao giờ bị quan tuyệt vọng mà tràn đầy lạc quan tin tưởng để sống và yêu thương.

* Đặc biệt, hình ảnh là cờ bay phấp phới trong tâm trí Tràng ở cuối truyện đã khẳng định chắc chắn những khát vọng bình thường mà chính đáng của con người trong tình huống bất thường không hão huyền, viển vông, là tín hiểu chắc chắn đã và sẽ hiện hữu.

+ Khái quát lại: Khẳng định ý kiến đã chỉ rõ những ý nghĩa sâu sắc của tình huống truyện.

– Kết bài:

“Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo; là bài ca về khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người.

Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lý tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.

Xem thêm Đáp án đề thi do trung tâm Hoc Mai giải

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 4.
1. Ở khổ 1, sự mượt mà và tinh tế của Tiếng Việt được thể hiện ở những từ ngữ sau: như lụa; mềm mại như tơ; óng tre ngà
2. Trong khổ 2 và 3, hai biện pháp tu từ được tác giả sử dụng là so sánh (tiếng  tha thiết nói thường nghe như hát) và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối)
3. Nội dung chính của đoạn trích là những phát hiện sâu sắc mới mẻ, độc đáo của tác giả về đặc điểm và khả năng biểu đạt của Tiếng Việt: tiếng nói có trước, chữ viết có sau, tiếng Việt giàu thanh điệu và giàu nhạc tính, có khả năng gợi hình và biểu cảm cao, vừa cứng cáp, bình dị, vừa mềm mại, uyển chuyển. Tác giả cũng bộc lộ tình cảm thiết tha yêu quý, tự hào về ngôn ngữ và tiếng nói của dân tộc.
4. Thí sinh có thể trình bày cảm nghĩ của mình về Tiếng Việt theo gợi ý sau:
– Tiếng việt không chỉ là công cụ giao tiếp phổ biến hàng ngày của người Việt mà còn là một phần bản sắc văn hóa của dân tộc.
– Mỗi người dân Việt đều hãnh diện về tiêng nói của mình, đều cần ra sức làm phong phú khả năng diễn tả của tiếng việt và giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu từ 5 đến 8
5. Phương thức biểu đạt chính: nghị luận
6. “Giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng”.
7. Lí do: khi không thoát ra khỏi tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, mỗi người sẽ chỉ sống trong cái tôi cá nhân ích kỉ, nhỏ bé của mình. Sự tồn tại như thế không có ý nghĩa gì đối với bản thân cũng như đối với cộng đồng nên đó là cuộc sống vô giá trị và không có gì đáng thèm muốn.
8. Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ riêng của mình theo gợi ý sau:
Cuộc sống của những con người thoát ra khỏi cái tuyệt đối cá nhân là cuộc sống của những người cao quý, biết gắn bó với cộng đồng, biết cống hiến vì cuộc sống chung của cộng đồng, nhân dân và đất nước. Chỉ khi biết sống cống hiến, sống vì người khác thì cuộc sống của mỗi cá nhân mới trở nên có giá trị, có ý nghĩa và là cuộc sống cao đẹp.
(Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình! – Tố Hữu)

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Có đủ các phần mở bài, thân bài và kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác  định đúng vấn đề cần nghị luận

+ Người “nhặt” vợ là một anh chàng xấu xí, nghèo, dân ngụ cư, dở tính…

* Tình huống đó đã nói lên những khát vọng bình thương mà chính đáng
– Thông qua tình huống ta thấy được khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người mà cụ thể là ở Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ
+ Thị theo không Tràng trước hết là để được có chỗ nương tựa, vượt qua những ngày đói, nhưng đó chỉ là động cơ bên ngoài. Cái chủ yếu, thôi thúc bên trong phải là khát khao hạnh phúc, khát khao về một mái ấm…(vì thế thị đã thay đổi sau khi nhận lời Tràng)
+ Hành động nhặt vợ của Tràng tưởng chừng là hành động liều lĩnh nhưng thực chất nó cũng xuất phát từ khát vọng muốn được cưu mang, muốn có một mái ấm…
+ Cũng thông qua tình huống truyện, người đọc hiểu thêm về tấm lòng của bà cụ Tứ – người mẹ nghèo. Đó là lòng thương con, là khát khao, mong muốn cuộc đời của các con sẽ đỡ khổ..
* Đánh giá
– Ý kiến đã đánh giá đúng ý nghĩa của tình huống nói riêng và giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm nói chung.
– Thông qua tình huống, ta cảm nhận được giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm đồng thời nó cũng thể hiện được tình cảm thương yêu, niềm tin, sự cảm thông của tác giả dành cho những con người nghèo khổ.
3. Kết bài : Khẳng định lại vấn đề

Sự hèn nhát khiến con người tự đánh mất mình, còn dũng khí lại giúp họ được là chính mình.
* Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động
* Từ việc giải thích khái niệm hèn nhát và dũng khí, thí sinh nêu khái quát nội dung ý kiến.
Hèn nhát là tính cách của con người khi không đủ sức mạnh tinh thần.
Dũng khí là phẩm chất, tính cách của con người có đầy đủ sức mạnh tinh thần để đối diện với những khó khăn.
* Bàn luận:
– Hèn nhát khiến con người không đủ sống là chính mình với những mong muốn, khát vọng và xúc cảm, luôn sống, hành động thậm chí xúc cảm…theo sự chi phối, tác động của những đối tượng bên ngoài. Đó là lí do khiến họ tự đánh mất mình.
– Ngược lại, khi con người có dũng khí, đủ sức mạnh tinh thần khi đối diện với những đối tượng bên ngoài thì họ sẽ thoát khỏi sự tác động, chi phối và sự đe dọa để được sống, suy nghĩ, hành động theo ý mình. Lúc đó, họ mới có thể là chính mình.
– Dũng khí của con người cần kết hợp với trí tuệ trên nền tảng nhân văn để có thể đi được đúng hướng và đạt hiệu quả cao nhất.
Biểu hiện trong cuộc sống:
=> Bài học nhận thức và hành động : Rút ra bài học phù hợp cho bản thân.
* Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
Câu 2 (4,0 điểm)
1. Mở bài
– Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm
– Khẳng định thành công nổi bật của tác phẩm là ở việc xây dựng tình huống truyện – Trích dẫn ý kiến
2. Thân bài
a. Giải thích ý kiến
– Tình huống truyện: Hoàn cảnh có vấn đề, thông qua hoàn cảnh đó các nhân vật được bộc lộ tính cách, thân phận…
– Tình huống bất thường: Là tình huống trái khoáy, éo le, trái với quy luật thông thường của đời sống, ngược với cách cảm, cách nghĩ thông thường của con người…
– Khát vọng bình thường và chính đáng: Là khát vọng bình dị, giản đơn, muôn đời mà con người ai cũng có và cần có. Đó là khát vọng được sống, được hạnh phúc, được yêu thương…
b. Bàn luận ý kiến
* Truyện “Vợ nhặt” đã xây dựng được tình huống bất thường
– Khái quát về tình huống “nhặt vợ” của Tràng – Phân tích, chứng minh tính bất thường của tình huống:
+ Việc dựng vợ gả chồng là việc thiêng liêng, không ai lại đi “nhặt” vợ – là một việc làm thờ ơ, ngẫu nhiên, không chủ tâm.
+ Việc “nhặt” vợ đó diễn ra giữa những đói khát, tăm tối

Xem thêm gợi ý giải khác của cô Giáo Hà quận Cầu Giấy và cô giáo Hương quận Đống Đa Hà Nội giải

Đáp án đề thi môn Văn thi tốt nghiệp THPT quốc gia 2016 của bộ Giáo Dục:

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here