Phân tích vẻ đẹp của người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của người lính trong bài thơ “Tây Tiến” (Quang Dũng)\

Bài văn mẫu Phân tích vẻ đẹp của người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

Quang Dũng bước vào con đường sáng tạo văn học nghệ thuật từ trước Cách mạng tháng Tám nhưng đến thời kì kháng chiến chống Pháp, ông mới thực sự khẳng định được tài năng và phong cách sáng tạo của mình. là một người tài hoa, Quang Dũng đã thể hiện ngòi bút của mình trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật: hội họa, âm nhạc, văn chương. Ở lĩnh vực nào, ông cũng có những đóng góp nhất định. Nói đến Quang Dũng, trước hết là nói đến lĩnh vực thơ ca. Chất thơ hào hoa, lãng mạn của Quang Dũng không những dồi dào trong những bài thơ trữ tình mà còn đi vào những trang văn, bản nhạc, bức tranh của ông. Quang Dũng sáng tác thơ không nhiều nhưng dấu ấn tâm hồn và phong cách sáng tạo của ông vẫn in khá đậm trên hành trình thơ Việt Nam hiện đại.

Bài thơ Tây Tiến được Quang Dũng viết năm 1948, với nhan đề là Nhớ Tây Tiến. Năm 1975, bài thơ được tác giả đổi tên thành Tây Tiến.

Xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, mênh mang về người, về cảnh, về những kỉ niệm ở đoàn quân Tây Tiến, nơi Quang Dũng đã sống những ngày tháng không thể nào quên trong cuộc đời cầm súng và cầm bút của mình. Hình tượng nhân vật trữ tình trung tâm của bài thơ là người lính hào hoa, lãng mạn dấn thân vào cuộc chiến đấu với ý chí quyết tâm, với những ước mộng cao đẹp và với một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm.

Bài thơ mở đầu bằng tiếng gọi thiết tha như vọng từ xa thẳm:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

Nhớ về Tây Tiến là Quang Dũng nhớ về dòng sông Mã, nhớ về cảnh núi rừng miền Tây. Nỗi nhỡ man mác, mênh mang như gửi về muôn nẻo: “nhớ chơi với”. Cả một miền đất xa xôi lần lượt hiện về sống dậy trong dòng hồi tưởng của nhà thơ:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Không gian núi rừng thật hùng vĩ và huyền ảo, một không gian ngập tràn sương khói, sương buông dày che lấp cả đoàn quân. Không gian bồng bềnh sương khói ấy gợi về một thế giới vừa hư vừa thực đầy bí ẩn.

Sau cái nhìn toàn cảnh, nhà thơ tái hiện con đường hành quân gập ghềnh khúc khuỷu với đèo cao, dốc đứng, với vực sâu thăm thẳm, với mưa lũ thác gào. Cảnh ấy được Quang Dũng khắc họa bằng những câu thơ gân guốc, giàu tính tạo hình:

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống.

Những câu thơ này không những được tạo hình bằng ảnh mà còn được tạo hình bằng thanh điệu. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng tạo hình như thế:

Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.

Bản thân thanh điệu của câu thơ đã đủ diễn tả con đường gập ghềnh ấy. Mà Nguyễn Du đâu trực tiếp miêu tả con đường, nhà thơ chỉ miêu tả vó câu (bước chân ngựa) và bánh xe lăn đi như thế nào là người đọc hình dung ra con đường rõ mồn một.

Ấn tượng lớn nhất về con đường miền Tây mà Quang Dũng tái hiện là độ cao và độ sâu của nó. Dốc lên đã gập ghềnh, khúc khuỷu lại cao thăm thẳm không cùng. Lúc đến đỉnh cao, mũi súng như đã chạm tới trời xanh. Lên cao rồi xuống sâu, con đường gấp xuống đột ngột, câu thơ như đứt gãy giữa dòng: Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống”. Con đường ấy lúc lên thì heo hút, xa thẳm, vời vợi ngàn trung, lúc xuống thì thẳm sâu mờ mịt. Đứng trước không gian ấy, ai mà không có cảm giác hãi hùng rợn ngợp? Nhưng Quang Dũng đã kịp thời cân bằng lại cảm giác, giữ người đọc trong trạng thái chơi vơi:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Con mưa giăng giăng khỏa lấp không gian gập ghềnh đầy những núi cao vực thẳm và tạo nên một ấn tượng bằng phẳng như thanh điệu của câu thơ. Có thể hiểu câu thơ này theo hai mức độ và sắc thái khác nhau. Từ trên đỉnh đèo cao nhìn ra xa, người lính Tây Tiến thấy những ngôi nhà ở Pha Luông thấp thoáng trong cơn mưa. Cũng có thể hiểu, khi cơn mưa trút xuống, cả một vùng rộng lớn mịt mờ trắng nước, ngỡ như biển khơi; những ngôi nhà ở Pha Luông như dập dềnh trên biển lớn. Giữa nền thiên nhiên hùng vĩ và dữ dội ấy, hiện lên hình ảnh đoàn quân đang miệt mài trèo đèo lội suối băng rằng. Có những người không có đủ sức bước nữa đã gục xuống và trút hơi thở cuối cùng:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục trên súng mũ bỏ quên đời.

Hình ảnh nhà thơ nói lên sự hi sinh mất mát lớn lao nhưng không gợi lên tình cảm bi lụy. Người chiến binh ấy đã vượt lên bao gian khổ khó khăn, đến lúc sức tàn lực kiệt vẫn cố gắng tiến bước, bước đến giây phút “bỏ quên đời” mới yên nghỉ dọc đường trường chinh, anh chết trong cuộc hành trình của đoàn quân anh dũng.

Ấn tượng mạnh mẽ nhất trong đoạn thơ đầu là cảnh thiên nhiên miền Tây. Cái dữ dội vốn có của nó càng trở nên dữ dội hơn qua cách cảm nhận của Quanh Dũng. Có lúc thiên nhiên trở thành một lực lượng hung bạo đe dọa sự sống của người chiến sĩ:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Hai câu thơ gọi về một thế giới hoang sơ, dữ dăng, bí ẩn nơi “thâm sơn cùng cốc” “rừng thiêng nước độc”. Thiên nhiên ở đây không phải là đối tượng thưởng ngoạn mà là đối tượng đương đầu. Thiên nhiên là hiện thân của uy lực hoang sơ muốn uy hiếp tinh thần người lính những họ vẫn dám đương đầu và chế ngự bằng ý chí, quyết tâm to lớn của mình. Phải chăng miêu tả một thiên nhiên như vậy, Quang Dũng muốn làm nổi bật vẻ đẹp lãng mạn, phi thường của người lính?

Cuộc sống khó khăn gian khổ là thế, nhưng người lính Tây Tiến vẫn có không ít những kỉ niệm ngọt ngào, vẫn có bao cảnh thơ mộng để mà ghi nhớ:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thêm nếp xôi.

Hai câu thơ này được nhiều người nhắc đến như những hình ảnh đẹp nhất của cuộc sống miền Tây. Biết bao nhớ nhung lưu luyến được nhà thơ gửi gắm trong hai câu thơ trữ tình đằm thắm ấy. Cuộc sống bình dị mà đầm ấm biết bao, đầm ấm không chỉ ở cảnh “cơm lên khỏi”, ở hương vị “thơm nếp xôi” mà còn ở tình người thắm thiết.

Người lính Tây Tiến phải chịu đựng biết bao gian khổ khó khăn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ vẫn rất lãng mạn, yêu đời. Ở nơi rừng thẳm heo hút ấy, họ vẫn cất lên lời ca tiếng hát trong những đêm liên hoan văn nghệ. Đó là những ngày hội tưng bừng vui vẻ, ánh sáng trong ngọn đuốc bùng lên, niềm vui cũng bừng lên trong ánh mắt người lính Tây Tiến:

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Tham dự những “hội đuốc hoa” ấy, nhiều lúc Quang Dũng sung sướng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của đồng nội. Người thiếu nữ lên sân khấu lộng lẫy trong “xiêm áo”, e ấp dịu dàng trong dáng điệu, quyến rũ trong lời ca tiếng nhạc có sức hấp dẫn đặc biệt đối với những người lính lãng mạn và đa tình như Quang Dũng. Cái tôi trữ tình của nhà thơ Quang Dũng trong bài thơ này là cái tôi trữ tình nghệ sĩ hào hoa. Con người hào hoa ấy ra đi từ mảnh đất Hà thành nên càng dễ say cảnh, say người xứ lạ. Nhà thơ ngắm cảnh và thâm nhập vào linh hồn của cảnh, ngắm người và thâm nhập và vẻ đẹp của tâm hồn người:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Hình ảnh “dáng người trên độc mộc” mang những nét độc đáo của con người và cuộc sống miền Tây, nơi đầu sóng ngọn thác. Đó không phải là vẻ đẹp yểu điệu dịu dàng mà là vẻ đẹp mạnh mẽ, dũng cảm, ngang tàng của những con người đã từng vượt ghềnh băng thác mà không sợ hiểm nguy. Bông hoa rừng bên bờ suốt dưới con mắt của Quang Dũng cũng trở nên “đong đưa”, tình tứ lạ thường, như gửi tình theo dòng nước lũ.

Bài thơ Tây Tiến gồm ba phần, Phần đầu là nỗi nhớ rừng, phần thứ hai là nỗi nhớ về cuộc sống sinh hoạt, phần thứ ba là nỗi nhớ về đoàn quân trên bước đường trường chinh gian khổ mà vô cùng anh dũng. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đã đi vào thơ Quang Dũng với nhiều nét độc đáo:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân Xanh màu lá dữ oai hùm.

Hình ảnh “đoàn biinh không mọc tóc” có vẻ kì dị, lạ thường nhưng không phải sản phẩm tưởng tượng hay là cường điệu hóa. Đó là hình ảnh được lấy từ hiện thực cuộc sống của người lính Tây Tiến. Cuộc sống nơi miền Tây thật khắc nghiệt, nước độc rừng thiêng, sốt rét hoành hành dữ dội. Những người lính Tây Tiến bị những trận sốt rét triền miên làm cho da họ xanh như tàu lá, tóc rụng đến trọc đầu. Hiện thực khắc nghiệt ấy cũng được nhà thơ Chính Hữu ghi lại trong bài thơ Đồng chí:

Anh với tôi biết ừng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi.

Cũng nói về gian khổ khó khăn, cũng nói về những cơn sốt rét miền rừng nhưng qua cách nói của Quang Dũng lại có sức ám ảnh kì lạ, lại gây được ấn tượng mạnh mẽ lạ thường. Bút pháp lãng mạn của Quang Dũng phát huy triệt để các hình ảnh tương phản. Ở đây có sự tương phản giữa thể xác và tinh thần. Người lính miền Tây tuy da xanh tóc rụng, thân thể tiều tụy nhưng họ có sức mạnh tinh thần to lớn, “vẫn dữ oai hùm”, vẫn chiến đấu kiên cường, dũng cảm khiến kẻ thù phải khiếp sợ.

Những người lính Tây Tiến phần lớn là thanh niên Hà Nội. Họ bước vào cuộc khánh chiến với bao ước mộng lãng mạn, với chất men say lí tưởng:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Trong tâm hồn của những chàng thanh niên trí thức tiểu tư sản hồi ấy vẫn còn mộng tráng sĩ, một khách chinh phu dấn thân vào trận mạc “gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao”. Vì vậy nếu họ có “mộng” có “mơ” cũng là dễ hiểu. Nhưng điều cơ bản, trong cái dáng vẻ lãng mạn của họ còn có tinh thần của thời đại, hào khí của dân tộc trong cuộc hồi sinh vĩ đại sau Cách mạng tháng Tám. Thế hệ ấy dấn thân vào cuộc sống chiến đấy với tâm niệm “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, ra đi với tiếng hát hào hùng của đoàn Vệ quốc: “Ra đi ra đi bảo toàn sông núi. Ra đi ra đi thà chết chớ lui”. Ra đi với khí thế ấy, tâm niệm ấy họ mới có thể vượt lên gian khổ khó khăn, mới dám đương đầu với cái chết mà không nản lòng nhụt chí:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Bài thơ Tây Tiến có nói nhiều đến mất mát, hi sinh; âm hưởng bài thơ tuy hùng tráng nhưng phảng phất nỗi buồn đau. Tuy nhiên, đó không phải là nỗi buồn đau bi lụy. Người chiến sĩ Tây Tiến khi bước vào cuộc chiến đấu là nguyện hiến dâng tuổi trẻ của mình cho quê hương đất nước. Đối với họ, cái chết nhẹ tựa lông hồng. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Quang Dũng viết về cái chết một cách nhẹ nhành như vậy. Tác giả chỉ dúng những từ “quên đời”, “về đất” để nói lên sự mất mát, hi sinh. Cách nói ấy đúng với tinh thần và quan điểm của người tráng sĩ. Ngày xưa tráng sĩ ra sa trường là chấp nhận cảnh “da ngựa bọc thây”. Ngày nay người lính Tây Tiến về với đất mẹ với manh chiếu bình dị. Anh không thể chết mà hóa thân vào non sông đất nước, anh trở về cõi trường sinh bất tử. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, dòng sông Mã đã kịp tấu lên khúc độc hành để tiễn đưa linh hồn và thể xác của anh về với đất mẹ thân yêu.

Bài thơ Tây Tiến đã kết thúc bằng lời thề nguyền quyết tâm chiến đấu – lời thề của những người đã xác định rõ ràng tinh thần “một đi không trở lại”, ra đi chỉ có “một chia phôi”.

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Quang Dũng và bao đồng đội của mình đã lên Tây Tiến mùa xuân năm 1947. Ông và bao chiến sĩ đã trở về, trở về với vinh quang chiến thắng, trở về với bao kỉ niệm đẹp đẽ rồi kết thành bài thơ Tây Tiến, quà tặng cho các thế hệ bạn đọc hôm nay.

 

 

PHÂN TÍCH TÂM SỰ CỦA NGUYỄN DU TRONG BÀI ĐỘC TIỂU THANH KÍ

 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÂM SỰ CỦA NGUYỄN DU TRONG BÀI ĐỘC TIỂU THANH KÍ

Đề bài: Qua bài Độc Tiểu Thanh kí, hãy viết bài cảm nhận về tâm sự của Nguyễn Du

Không phải đến Nguyễn Du cảm hứng về thân phận con người mới xuất hiện trong văn học Việt Nam nhưng một điều chắc chắn là chỉ đến nhà thơ, cuộc đời, số phận con người mới trở thành cảm hứng chủ đạo, thành chủ đề xuyên suốt các trang viết và gợi trong tác giả nhiều tâm sự sâu sắc. Và dù là câu chuyện dài như Truyện Kiều hay chỉ với bài thơ ngắn như Độc Tiểu Thanh kí, chúng ta đều có thể cảm nhận được những nỗi niềm tâm sự đó.

Phân tích tâm sự Nguyễn Du qua bài Độc tiểu Thanh kí (bài thơ độc tiểu Thanh Kí)

Độc Tiểu Thanh kí được gợi hứng từ cuộc đời và số phận của một người con gái Trung Quốc tên là Tiểu Thanh. Tiểu Thanh vốn là cô gái nhan sắc và có tài thi ca, âm nhạc, sống khoảng đầu đời Minh. Nàng làm lẽ một nhà quyền quí. Nhưng thật không may, người vợ cả vốn hay ghen đã bắt nàng ra núi Cô Sơn ở. Vì đau buồn, nàng mất khi mới mười tám tuổi. Những bài thơ nàng viết phần lớn bị người vợ cả đốt hết. Người đời sau sưu tầm được một số bài còn sót lại, đặt tên là Phần dư. Cảm thương cho số phận Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã viết bài thơ như một tiếng khóc lớn dành cho nàng:

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

Tiếng khóc Nguyễn Du khởi phát từ nhất chỉ thư, nghĩa là mảnh giấy. Mảnh giấy này là vật chứng lưu kí bao tâm sự của một con người. Mảnh giấy tàn trước cửa sổ ám chỉ số phận chóng tàn, mong manh, khái quát về số phận, giá trị tinh thần bị huỷ hoại, quên lãng, vùi dập, đương nhiên, trong đó có Tiểu Thanh. Người nghệ sĩ đa mang không khóc thương cho những cái trọn vẹn, đầy đặn mà lại xúc động trước cái mong manh, dở dang gắn liền với số phận của con người bạc mệnh.

Điều đặc biệt là không có ai khóc cùng Nguyễn Du. Chữ độc đứng đầu dòng thơ nhấn mạnh tâm thế của tác giả – đó là tâm thế xót thương trong nỗi cô đơn. Chỉ riêng một mình nhà thơ thấm thía về cuộc đời, thân phận mong manh của con người. Suy cho rộng, Tiểu Thanh chính là cái cớ để Nguyễn Du thể hiện triết lí của mình về “tài mệnh tương đố”. Nói như vậy cũng có nghĩa Nguyễn Du không chỉ khóc thương riêng người con gái họ Phùng mà còn khóc cho biết bao thân phận phụ nữ khác:

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

(Truyện Kiều)

Tiếng khóc của Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh hướng tới hai giá trị cụ thể:

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

Chi phấn (son phấn) và văn chương là những thứ biểu trưng cho vẻ đẹp hình sắc và cái đẹp tâm hồn. Điều này không khó lí giải bởi lẽ ai cũng biết Tiểu Thanh là người con gái có nhan sắc và hết sức tài hoa. Son phấn có thần nên vẫn phải ôm hận kể cả sau khi chết, văn chương không có thân mệnh cụ thể nhưng phải chịu sự hành hạ, phải mang luỵ. Cái đẹp nói chung đều phải chịu sự chà đạp. Nỗi đau thể xác và bi kịch tinh thần được đồng nhất trong số phận oan nghiệt của một cuộc đời. Lời thơ đong đầy nỗi niềm tiếc thương, xót xa, đau đớn. Nhan sắc ấy, tài năng ấy có lẽ đâu lại phải chịu đựng sự chà đạp phũ phàng nhường vậy? Nguyễn Du đã khóc cho bao nhiều người con gái như Tiểu Thanh, một tài hoa – nghệ sĩ nào, nước mắt nhà thơ cũng tuôn rơi đầy xót thương và hết sức chân thành. Tiếng khóc Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh cũng chính là tiếng khóc nhà thơ dành cho số kiếp “tài hoa bạc mệnh” như nàng. Tâm sự đó được nhà thơ tiếp tục triển khai trong những dòng tiếp theo:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.

Cổ kim hận sự là nỗi hờn về sự bất công của số phận. Nhà thơ nhận thức về quy luật tài hoa bạc mệnh, tài tử đa cùng, người có tài hoa, trì tuệ thì số phận long đong. Đó là nỗi bất công ngự trị từ xưa đến nay, là bi kịch đã được khái quát hoá, được đồng nhất. Mặt khác, chúng ta có thể nhận thấy từ cuộc đời của một người con gái, nhà thơ muốn hỏi cho rõ nguyên nhân gây nên bi kịch nói chung của thời đại chứ không phải riêng của dân tộc, thân phận cụ thể nào. Đến đây, có thể cảm nhận rất rõ ràng tiếng khóc của Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kí không chỉ hướng tới cuộc đời, số phận cụ thể là nàng Tiểu Thanh mà còn hướng tới tất cả những tài hoa, phong nhã không phân biệt nam hay nữ (những kẻ phong vận), tất nhiên trong đó có ông. Tiếng khóc ấy không chỉ chan chứa yêu thương mà còn rất chân thành, xúc động bởi lẽ tác giả đã tự đặt mình vào thế giới của những kẻ phong vận kia. Điều đó chứng tỏ người nghệ sĩ của chúng ta ý thức rất rõ về bản thân mình. Ông nhận mình cũng là người cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh: Tráng niên ngã diệc, vi tài tử. Không phải Nguyễn Du tự ngạo nhưng quả thật đúng như vậy. Số phận của Nguyễn Du, Tiểu Thanh đều bất hạnh như nhau. Tự nhận là người cùng hội cùng thuyền cũng có nghĩa là nhà thơ thừa nhận sự tri ân, đồng điều giữa bản thân mình và người thiên cổ đã đạt đến mức tuyệt đối. Đó là sự tri âm, đồng điệu giữa những con người tài hoa, bạc mệnh. Vậy nên tiếng khóc của Nguyễn Du không phải là tiếng khóc của đấng tu mi nam tử đoái thương cho số phận người đàn bà mà là tiếng khóc của người trong cuộc, của người Cùng một lửa bên trời lận đận (Long Thành cầm giả ca). Chưa ai trả lời cho Nguyễn Du được nguyên nhân của bi kịch đó để rồi khóc người thiên cổ, nhà thơ lại đói thương cho chính bản thân mình:

Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Từ hiện tại, Nguyễn Du khóc thương cho quá khứ, cho người trong quá khứ. Và bất chợt nhà thơ tự hỏi ba trăm năm sau sẽ ai khóc thương mình. Thương người, ngẫm bi kịch của người, khóc cho người rồi thương chính bản thân mình, điều đó cho thấy nhà thơ đã tự đặt mình vào số phận chung của những tấn bi kịch. Tiểu Thanh bạc mệnh nhưng ba trăm năm sau cũng có người cùng hội cùng thuyền là Nguyễn Du thương xót. Nỗi đau của nàng đã được xoa dịu một chút nơi chín suối. Nhưng liệu rằng điều đó có lặp lại với ông? Ba trăm năm chỉ là con số ước lệ. Tri âm, tri kỉ đâu cần đến ba trăm năm mới xuất hiện? Đọc thơ văn Nguyễn Du, cảm nhận sâu sắc tấm lòng vị tha, đa mang của nhà thơ trước cuộc đời, trước con người, bất cứ ai chẳng muốn tri âm với ông. Câu hỏi của Nguyễn Du hướng tới tương lai chứ không cho hiện tại, có thể vì ông không tìm thấy sự đồng cảm trong hiện tại. Đó là nỗi buồn sâu lắng về cuộc đời cũng là một triết lí về thuyết tài mệnh tương đố. Ông thương cho người xưa, thương cho chính mình và thương cho cả người sau phải khóc mình. Sẽ còn có những trái tim đa cảm như Nguyễn Du, sẽ còn những giọt nước mắt khóc cho những số phận cay đắng của người nghệ sĩ tài hoa mà bạc mệnh.

Qua nỗi niềm cảm thương Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã thể hiện những tâm sự thầm kín nhất trong cõi lòng mình. Thương người rồi lại thương mình, thương người rồi mới thương ta (Lâm Thị Mỹ Dạ), đó chính là chiều sâu trong tư tưởng nhân văn của con người có trái tim vĩ đại – Nguyễn Du – nhà đại thi hào của dân tộc Việt Nam.

Trên đây là bài văn phân tích Tâm sự của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Kí, các bạn tham khảo nhé!

 

 

Chứng minh nhận định: “Tràng Giang là bài thơ có sự kết hợp tính cổ điển và tính hiện đại”.

Viết bài văn chứng minh nhận định: “Tràng Giang là bài thơ có sự kết hợp tính cổ điển và tính hiện đại”.

Chứng minh nhận định: “Tràng Giang là bài thơ có sự kết hợp tính cổ điển và tính hiện đại”.

Huy Cận là một nhà thơ tên tuổi trong nền thi ca nước nhà với nhiều tác phẩm tiêu biểu, có đóng góp rất nhiều trong phong trào thơ mới. “Tràng Giang” là một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng nhất của ông. “Tràng Giang” trích trong tập “Lửa Thiêng” được viết trước cách mạng tháng Tám. Với bút pháp nghệ thuật đặc sắc, bài thơ là một bức tranh đẹp được hòa quyện giữa nét cổ điển và hiện đại.

Tràng giang là một bài thơ có vẻ đẹp cổ điển. Vẻ đẹp này thể hiện ở nhiều phương diện, trước hết có lẽ là thể hiện ở thể thơ thất ngôn, chủ yếu với cách ngắt nhịp quen thuộc, tạo nên sự cân đối, hài hòa. Song Tràng Giang cũng là bài thơ hiện đại. Hiện Đại trong việc vận dụng thể thơ bảy chữ, cách sử dụng thi liệu, nhất là sự cảm nhận sự vật, khiến cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư vô.

Tràng Giang là bài thơ có sự kết hợp giữa tính cổ điển và tính hiện đại

Nét đẹp cổ điển và hiện đại được thể hiện ngay từ tựa đề của bài thơ “Tràng Giang”. Hai chữ “tràng giang” mang tính cổ điển mà trang nhã, là từ Hán Việt, gợi cho ta đên những bài thơ Đường thi có màu sắc xưa cũ, cổ kính. Nhưng nếu các thi nhân xưa đến với thiên nhiên để tìm sự giao cảm thì nhà thơ hiện đại Huy Cận lại đứng trước “Tràng Giang” để thể hiện nỗi ưu tư, buồn bã trước kiếp người nhỏ bé cô đơn. Đó là một tâm hồn rất hiện đại mà qua đó ta có thể thấy được nét rất quyến rũ của bài thơ.

Với khổ thơ đầu tiên:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Hai từ láy “điệp điệp” và “song song” của 2 câu thơ đầu đậm chất cổ điển của thơ Đường. Giữa cái bao la bát ngát của những cơn sóng, của nước là hình ảnh một “con thuyền xuôi mái”. Thuyền và nước thường đi đôi với nhau nhưng ở đây “thuyền về nước lại” nghe sao xót xa. Câu thơ cuối “Củi một cành khô lạc mấy dòng” cho ta thấy được sự cô đơn lẻ loi đến lạc lõng giữa vũ trụ bao la. Nét đẹp cổ điển của khổ thơ được thể hiện qua ngòi bút đặc sắc của tác giả, chỉ bằng vài nét chấm phá đơn sơ đã gợi được lên hồn cốt của tạo vật.Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn thấy được nét đẹp hiện đại của khổ thơ, đó là hình ảnh độc đáo không ước lệ “củi một cành khô”, hình ảnh thâu tóm ý tưởng chủ đạo cả khổ thơ, hé mở tâm trạng nhân vật trữ tình cô đơn, lạc lõng.

Khổ thơ tiếp

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Từ láy được tác giả sử dụng một cách dày đặc “lơ thơ” “đìu hiu”, “chót vót” cùng với việc sử dụng hình ảnh đối lập “nắng xuông- trời lên”, “sông dài- trời rộng” là thủ pháp nghệ thuật trong lối thơ cổ. Vẻ đẹp cổ điển còn hiện ra qua các thi liệu quen thuộc như sông, trời còn cuộc sống con người thì cô đơn, buồn bã. Cái mới mẻ ở đây là cách diễn đạt qua hình ảnh chuyển đổi cảm giác của tác giả khi mà “nắng xuống trời lên” lại “sâu chót vót”, gợi lên cho ta cái mở rộng về thời gian và không gian để rồi thấy rõ hơn cái nhỏ bé cô đơn của con người.

Ở khổ thơ thứ ba:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

“Bèo” là hình ảnh ẩn dụ cho kiếp người trôi nổi thường được sử dụng trong những bài thơ cổ điển. Ở đây, bèo không chỉ có một cánh mà “hàng nối hàng” rợn ngợp. Cảnh vật ở đây hiu quạnh đến vô tận. Cụm kết cấu “không… không” nhấn mạnh điều đó. Giữa không giang mênh mông rợn ngợp giường như heo hắt không có sự sống, chỉ có “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại được thể hiện đặc sắc ở khổ thơ cuối:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” được tác giả lấy thi hứng từ tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ “Mặt đất mây đùn của ải xa”. Bút pháp gợi tả cùng từ láy “lớp lớp” cho thấy được hình ảnh sống động của núi mây. Ở đây tác giả vận dụng rất tài tình động từ “đùn” khiến cho từng lớp mây như đang chuyển động. Hình ảnh này rất độc đáo, mang một vẻ đẹp hiện đại. Ở câu thơ sau, “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình ảnh “chiêm nghiêng cánh” và “bóng chiều” cũng là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca cổ điển. Câu thơ tả không gian nhưng gơi được cả thời gian. Giữa khung cảnh đó là một tâm hồn vô cùng hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

“Dợn dợn” là một từ láy độc đáo của Huy Cận mà trước đó chưa ai từng sử dụng. Kết hơp cùng với cụm từ “vời con nươc” khiến cho “lòng quê” càng thêm hiu quanh. Ở câu thơ cuối tác giả lấy cảm hứng từ tứ thơ “Yên ba giang thượng sử nhan sầu” của Thôi Hiệu. Nhưng ở đây tác giả không cần “khói hoàng hôn” cũng vẫn “nhớ nhà” bởi nỗi nhớ đó luôn thường trực trong tâm khảm tác giả. Nét khác biệt đó làm nên vẻ đẹp hiện đại của câu thơ và lan ra toàn bài thơ.

Tóm lại, Tràng Giang là một bài thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại. Dĩ nhiên, đặc sắc nhất của thi phẩm này vẫn là vẻ đẹp cổ điển.

Trên đây là bài văn mẫu phân tích nhận định: Tràng Giang là một bài thơ có sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại. Các bạn tham khảo nhé!

Phân tích nhận định của Hoài Thanh :Xuân Diệu là một hồn thơ “tha thiết, rạo rực, băn khoăn”

Xuân Diệu là 1 hồn thơ” tha thiết, rạo rực, băn khoăn “- Hoài Thanh. Hãy phân tích bài thơ “Vội vàng” để làm rõ nhận định trên?

Hoài Thanh nhận xét :Xuân Diệu là một hồn thơ “tha thiết, rạo rực, băn khoăn”

Tôi đã trót yêu cái hồn thơ Xuân Diệu, một hồn thơ luôn rộng mở, chẳng bao giờ để lòng mình khép kín, một hồn thơ “tha thiết, rạo rực, băn khoăn” . Xuân Diệu tha thiết , rạo rực bởi niềm yêu đời, yêu cuộc sống, thèm sống đến mãnh liệt và thèm yêu đến điên cuồng với niềm khát khao được giao cảm với cuộc đời. Nhà thơ băn khoăn bời cái buồn bàng bạc, bâng khuâng, miên man không dứt bởi cuộc đời chẳng đáp ứng được cách sống vội vàng của nhà thơ. Với ba tính từ ấy, Hoài Thanh đã xây dựng cho Xuân Diệu một bậc thang cao nhất , đưa chàng thi sĩ “say men sống” lên đứng cao hơn người – “Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới” ( Hoài Thanh). Bởi nguyên nhân Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất, là đại biểu đầy đủ nhất cho phong trào thơ mới, bởi cái cá tính rất riêng khó có thể nhầm lẫn với ai, một phong cách thơ rất Xuân Diệu, mới cả về nội dung và hình thức. “Với những vần thơ ít lời mà nhiều ý, súc tích nhưng động lại bao nhiêu tinh hoa, Xuân Diệu là một tay thợ biết làm cho ta bất ngờ vì nghệ thuật dẻo dai và cần mẫn” ( Thế Lữ ). Xuân Diệu tuy xuất hiện trên thi đàn thơ Mới muộn hơn so với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông… nhưng thơ Xuân Diệu trong thời kì này đã tạo được một tiếng vang lớn có sức lay động với nhận thức và tình cảm của người đọc cũng như người sáng tác.

Xuân Diệu-Một hồn thơ tha thiết, rạo rực, băn khoăn.

“Nhà thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ hiền hậu và say mê, tóc như mây vướng trên đài trán thơ ngây, mắt như bao luyến mọi người và miệng cười mở rộng như một tấm lòng sẵn sàng ân ái, chàng đi trên dường thơ, hái những bông hoa gặp dưới bước chân mình, những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của lòng chàng…”(Thế Lữ). Vâng! Đúng vậy. Một nhà thơ nhận xét một nhà thơ, không phải chuyện “mèo khen mèo dài đuôi”, mà mèo muốn nói cái đuôi kia sẽ dài hơn kia. “Như một tấm lòng sẵn sàng ân ái”, Xuân Diệu dang tay chào đón nhựa sống dạt dào của cuộc đời. Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian, ông lại không trách mà còn quyến luyến cõi đời, và lời nguyện ước của ông có bao nhiêu là sức mạnh:

Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất.

Một ước muốn quá ngông cuồng, lãng mạn và dường như không thể thực hiện được! Nhưng với ai, chứ Xuân Diệu có thể thực hiện được, bởi nhà thơ:

Sống toàn tâm, toàn bích, sống toàn hồn
Bằng say mê và thức nhọn giác quan.

Nhà thơ dùng nhiều từ khiến lòng ta bỡ ngỡ,ngạc nhiên nhà thơ muốn ôm, cánh tay muốn làm rắn, muốn hóa thân thành “dây đa quấn quýt cả mình xuân” của cuộc sống. Dẫu biết mùa xuân là bất tận, Xuân Diệu biết quy luật của thời gian, biết rằng xuân qua đi rồi xuân vẫn sẽ trở lại, nhưng “tuổi trẻ chẳng bao giờ thắm lại” nên nhà thơ bâng khuâng tiếc cả dất trời, nhà thơ muốn ôm mãi mùa xuân, muốn cho mình trẻ mãi. Nhà thơ :

Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới dất.

Và ở đây, cái đẹp của vườn trần mà chỉ một mình Xuân Diệu mới phát hiện ra được:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Cùa yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi…

“Này đây”, sự lặp đi lặp lại một đại từ phiếm chỉ, để liệt kê, Xuân Diệu đã đưa ra cho người ta thấy, với một tâm hồn say sưa yêu cuộc sống như thế không thể hững hờ với thiên nhiên tươi đẹp, thì cớ gì mà con người còn đi tìm ở tận phương nào …

Cuộc sống đẹp và huyền dịu như thế nên nhà thơ không những đón nhận nó mà còn muốn hòa tan nó trong hơi thở của mình:

Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm của tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước và cây và cỏ rạng
Cho chếch choáng mùi thơm cho đã đấy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!

Xuân Diệu thật thiết tha với cuộc sống. Tuổi xuân chàng thi sĩ chỉ biết làm sao cho thỏa lòng thỏa dạ yêu đời. Cuộc sống vẫn còn đó chứ đâu? Tại sao nhà thơ lại cứ mãi suy nghĩ viễn vong rồi lại hành động ngô nghê. Không! Nhà thơ của chúng ta không ngây ngô, nhà thơ chỉ thôi thúc mọi người hãy sống sao cho xứng đáng với tuổi trẻ. Vì thế, nhà thơ “muốn ôm”, “ôm sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, nhà thơ “muốn riết mây đưa và gió lượn”, “muốn say cánh bướm của tình yêu”, “muốn thâu trong một cái hôn nhiều”…một loạt động từ “muốn” như khẳng định hành động, làm cho chếch choáng, cho đã đầy, cho no nê thanh sắc thời tươi và cuối cùng là không thể dồn nén cảm xúc: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Nhà thơ muốn cắn, muốn bấu vào da thịt của mình xuân, để có thể tận hưởng tất cả dư vị ngọt ngào của cuộc sống xuân tươi đang mơn mởn…

Lòng yêu cuộc sống thiết tha ấy, đặc biệt là khát vọng sống một cách có ích cho đời. Có thể nói đó là một trong những yếu tố tạo nên sức sống, sức hấp dẫn mạnh mẽ của thơ Xuân Diệu, góp phần tạo nên cho nhà thơ có một vị trí xứng đáng trên thi đàn thơ mới.

 

Đứng giữa cuộc đời đang đổi thay bởi cái cảnh nước mất nhà tan, là sao tâm hồn ấy có thể tha thiết và rạo rực mãi? Và tâm trạng của Xuân Diệu cũng có khác gì tâm trạng của những nhà thơ bấy giờ hay nói đúng hơn đó là tâm trạng của một lớp thanh niên trí thức buổi giao thời mới cũ đổi thay! Họ chỉ biết gửi tâm sự thầm kín của mình vào thiên nhiên, dất trời, vũ trụ bao la. Chẳng thế mà Hoài Thanh trong “thi nhân Việt Nam đã nhận xét: “ta thoát lên tiên cùng với Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên; ta dắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say dắm vẫn bơ vơ”.

Vì thế nhà thơ Xuân Diệu vẫn còn “bơ vơ”, lắng nghe bước đi của thời gian từ hạ sang thu, lòng nhà thơ dâng lên một nỗi buồn trê tái khó tả – nỗi buồn vỡ tung ra thành tiếng khóc và đọng lại thành hàng ngàn giọt lệ:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

có lẽ không phài là rặng liễu của thiên nhiên buồn mà dường như đó là “rặng liễu tâm hồn” của tác giả. Bởi tác giả cũng có nỗi niềm “buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”. Xuân Diệu đã dẫn ta vào thế giới của buồn chán, cô đơn và tuyệt vọng:

Tôi là con nai giữa chiều giăng lưới
Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối.

 

Bởi thế nên hồn thơ ấy còn rộng mở mãi mặc dầu trong lòng cũng còn mang nặng bao nỗi ưu tư. Trong niềm ưu tư đó, nhà thơ vẫn sống thiết tha với đời bằng tất cả tâm hồn của mình:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.

Vâng! Đúng thế. “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuốn quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình, khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết” (Hoài Thanh). Hơn nữa, Xuân Diệu “là một tay thợ biết làm cho ta ngạc nhiên vì nghệ thuật dẻo dai và cần mẫn…” (Thế Lữ).

Trên đây là bài văn mẫu Phân tích nhận định của Hoài Thanh :Xuân Diệu là một hồn thơ “tha thiết, rạo rực, băn khoăn” các bạn tham khảo nhé!

Tâm trạng đắm say bồng bột của một lòng ham sống mãnh liệt được thể hiện trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Đề bài:Tâm trạng đắm say bồng bột của một lòng ham sống mãnh liệt đã được thể hiện như thế nào trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Tâm trạng đắm say bồng bột của một lòng ham sống mãnh liệt  được thể hiện trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

TÌM HIỂU ĐỀ

+ Phân tích tâm trạng của cái tôi trữ tình trong bài thơ với những diễn biến cơ bản của nó, ở đây là tâm trạng đắm say rạo rực sôi nổi, là thái độ sống cuống quýt, vội vàng.

+ Rút ra được ý nghĩa tư tưởng của bài thơ thông qua toàn bộ tâm trạng này. Đây mới là cái đích cuối cùng của việc phân tích.

Về phương pháp làm bài nên chú ý mấy điểm:

+ Bài thơ là một tâm trạng trọn vẹn hoàn chỉnh, nhưng những trạng thái và cung bậc tình cảm ở mỗi phần thơ không giống nhau, cần phân đoạn để xác định bố cục bài thơ, cùng như xác định những mốc giới của quá trình diễn biến trong tâm trạng nhân vật trữ tình.

+ Phân tích cụ thể tâm trạng trữ tình qua những lời giãi bày trực tiếp, qua hình ảnh thiên nhiên và qua những động thái của nhân vật trữ tình.

+ Để làm nổi bật từng nét tâm trạng, có thể dùng các biện pháp so sánh: So sánh với tâm trạng trữ tình của cái Tôi Xuân Diệu ở những bài khác, hoặc so sánh với tác giả khác.

Những sai lầm có thể gặp, cần phải tránh.

+ Tránh đồng nhất việc phân tích tâm trạng trữ tình với việc phân tích bài thơ

+ Tránh đồng nhất việc phân tích những xúc cảm ẩn chứa trong ngôn từ với việc phân tích giá trị nghệ thuật của ngôn từ.

DÀN BÀI

Tâm trạng đắm say bồng bột của một lòng ham sống mãnh liệt của Xuân Diệu-bài thơ vội vàng

 

MỞ BÀI

Vài nét về tác giả Xuân Diệu:

Là nhà thơ của triết lí sống mãnh liệt,đã sống là tận hưởng và tận hiến.

Là một giọng thơ đắm say, rạo rực, sôi nổi.

Vài nét về bài thơ “Vội vàng”

Là bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng của Xuân Diệu.

Nổi bật lên là tâm trạng sống vội vàng, cuống quýt.

THÂN BÀI

Phần đoạn để xác định mốc giới của diễn biến tâm trạng.

+ Bài thơ có thể chia thành hai phần lớn tương ứng với diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình.

+ Phần một: Từ đầu đến “Ta muốn ôm” – Nhân vật, trữ tình bày tỏ những ham muốn và suy ngẫm của mình về những lí do, cần phải sống vội vàng.

Phần hai: Trực tiếp bộc lộ cách ứng xử, bộc lộ động thái độ vội vàng ấy.

Diễn biển tâm trạng cụ thể

Những ham muôn lạ lùng: Níu thời gian, tắt nắng, buộc gió để gìn giữ vẻ đẹp lại cho cõi trần gian.

+ Hình ảnh trần gian như một bữa tiệc đầy hấp dẫn quyên rũ qua cảm xúc háo hức vồ vập của nhân vật trữ tình.

+ Sự suy nghĩ đầy dự cảm lo âu về thời gian và sự ngắn ngủi có hạn của tuổi trẻ.

+ Cách ứng xứ với cuộc sống: Sống vội vàng, cuống quýt để tận hướng những hạnh phúc mà cuộc sống trần thế đang sẵn bày trước mắt.

Nghệ thuật diễn tả tâm trạng

+ Kết hợp những xúc cảm trữ tình và suy tư chính luận.

Toàn bài vừa là một dòng tâm trạng dào dạt trọn vẹn vừa là một hệ thống lặp luận, lập thuyết chặt chẽ hoàn chỉnh.

+ Hệ thống ngôn từ thể hiện sự hưởng thụ tinh thần nhưng lại được vật chất hóa, nhục cảm hóa để khiến cho niềm hạnh phúc thuần túy tinh thần hiện ra xác thực và có tính truyền cảm vô cùng mạnh mẽ.

KẾT BÀI

+ Vội vàng là một bài thơ mang đậm màu sắc tuyên ngôn. Trong đó triết lí nhân sinh đã được tắm đẫm trong cảm xúc trữ tình thành một dòng tâm trạng sống động.

+ Một tiếng thơ mang đậm tính chất “tự bạch”, “tự họa” của cái Tôi trữ tình Xuân Diệu – nhà thơ được xem là“mới nhất trong các nhà thơ mới”.

Trên đây là dàn ý cho bài văn “Tâm trạng đắm say bồng bột của một lòng ham sống mãnh liệt được thể hiện trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.”, các bạn tham khảo nhé.