Phân tích bài thơ đồng chí của Chính Hữu

0
15

Bài thơ Đồng chí là một trong những bài thơ vô cùng quan trọng trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Tkbooks.vn sẽ giới thiệu đến các bạn bài văn mẫu phân tích bài thơ đồng chí.

Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ đồng chí của nhà thơ Chính Hữu

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháo trước đây nhân dân cả nước đã tự nguyện, anh dũng làm nên nhiều chiến công hiển công hiển hách. Hình tượng người nông dân mặc áo lính đã đi vào thơ đẹp như bài ca. Một trong những bài thơ có giá trị đó chính là bài thơ Đồng Chí của nhà thơ Chính Hữu. Là một nhà thơ quân đội, tác giả hiểu rõ tình đồng độ cao quý của những người cùng lý tưởng. Tên bài thơ cùng độc đáo: Đồng chí

Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,
Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Mở đầu bài thơ tác giả giới thiệu nới xuất thân của anh bộ độ Cụ Hồ:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!

Lời trao gửi tâm tình của những người lính xa quê vào những phút nghỉ ngơi ngắn ngủi sau chặng hành quân vất vả, sau trận đánh ác liệt hay trong đêm rừng cùng nhau phục kích quân giặc. Lời tâm sự được tác giả diễn tả bằng bằng hình ảnh đẹp, ấm cúng. Điều làm cho mọi người dễ xích lại gần nhau hơn là nhũng câu chuyện quê hương . Quê hương anh và làng tôi, cách gọi chứa đúng bao tình cảm gắn bó thiết th. Không thấy nhắc đến một địa chỉ cụ thể nào, chỉ biết rằng quê hương anh là vùng nước mặn đồng chua. Câu thơ gợi nhiều hơn tả. Thành ngữ “nước mặn đồng chua” đi vào câu thơ rất tự nhiên, khiến người đọc liên tưởng đến một vùng đồng chiêm trũng ven biển quanh năm úng lụt. Cuộc sống người dân ở đây rất cực khổ nghèo nàn.

Không hẹn mà nên, những người nông dân ấy gặp nhau tại một điểm lòng yêu nước, Tình yêu quê hương gia đình, nghĩa vụ công dân thúc giục họ lên đường chiến đấu. Bởi thế nên từ những phương trời xa lạ mọi người vẫn chẳng hẹn nhau mà quen nhau. Trong môi trường quân đội đơn vị thay cho mái ấm gia đình, tình đồng đội thay cho mái ấm gia đình, tình đồng đội thay cho tình gia đình. Cái xa lạ ban đầu nhanh chóng bị xóa bởi những người cùng cảnh ngộ. Sát cánh bên nhau chiến đấu, càng ngày họ càng họ càng cảm nhận sâu sắc về sự hòa hợp, hắn bó những đồng đôi cùng chung lý tưởng và hành động.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đem rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đọc những câu thơ tiếp ta hiểu hơn tâm sự của anh bộ đội
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,
Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Nhà thơ thông cảm với các anh đi chiến đấu, họ để lại bao khó khăn vất vả sẽ đè nặng lên vao cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ. Biết chắc chắn là như thế nhưng các anh vẫn quyết định ra đi cứu nước vì cứu nước là cứu nhà. Ruộng vườn thì anh gửi bạn thân cày, gian nhà không cũ kỹ, xiêu vẹo đành mặc kệ gió lung lay . Mặc kệ nghĩa là dẹp hết chuyện riêng tư sang một bên để lo đi đánh giặc trước đã. Phảng phất đâu đây chí của của “người ra đi đầu không ngoảnh lại”.. Đấy chính là phong thái là cách nói dân dã, mộc mạc của người dân. Hai cách nói khác nhau nhưng cùng chung một thái độ dứt khoát đưa nhiệm vụ cứu nước trên trên hết.

Trải qua cuộc sống gian khổ biết bao điều gắn bó với chiến sĩ ta lại với nhau.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Tôi với anh chung ảnh ngộ, anh với tôi chung lý tưởng, chung đội ngũ và giờ đây anh và tôi lại chung cả từng cơn sốt rét rừng ghê gớm. Cái căn bệnh quái ác mà lính ta anh nào cũng sợ. Sợ mà không có cách nào tránh khỏi. Nhà thơ nhắc đến chuyện này như nhắc đến một kỷ niệm khó quên trong tình bạn.
Bài thơ đem lại sự rung động sâu sắc khi dựng nên được hình ảnh trung thực và giản dị của anh Bộ đội Cụ Hồ.

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày

Đọc đến đây ai mà không cảm động trước hình ảnh cha ông mình đánh giặc giữa trăm ngàn thiếu thốn. Có thế mới hiểu được, thowng quý hơn những lớp người đi trước đánh giặc với vũ khí tự tạo.
Bao thiếu thốn vật chất được thay thế bằng tình thương yêu sâu sắc của đồng đội.

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Có lẽ không ngôn ngữ nào diễn đạt cho hết tình đồng chí thiêng liêng trong hoàn cảnh ấy. Cái siết tay thật chặt và ánh mắt cảm thông tin cậy đủ nói lên tất cả.

Đoạn kết của bài thơ thật đẹp. Nó đã tạc vào thơ ca chân dung người chiến sĩ mộc mạc đơn sơ, mà khỏe khoắn hào hùng.

Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo

Chất hiện thực lãng mạn bay bổng hòa quyện với nhau. Cảnh vẫn là cảnh rừng hoang sương muối âm u, lạnh giá nhưng dường như nó bị đẩy tít ra phía sau, nhường chỗ cho hình ảnh đòng đang sát cánh bên nhau trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tình đồng chí thiêng liêng đã sưởi ấm lòng người chiến sĩ, chắp cánh cho âm hồn họ bay bổng. Đêm khuya chờ giặc, trăng đã xế ngang tầm súng và tác giả hạ câu thơ độc đáo “đầu súng trăng treo”. trong sự tương phản giữa hai hình ảnh súng và trăng người đọc vẫn tòm được mối quan hệ gần gũi. Súng tượng trưng cho tinh thần quyết chiến bảo vệ hòa bình. Trăng tượng trưng cho cuộc sống yên vui. Súng và trăng là biểu tượng của dân tộc Việt Nam dũng cảm hào hoa muôn thưở đồng thời nó cũng thể hiện lòng tin tưởng lòng tin tưởng và tâm hồn yêu nước của chiến sĩ ta.

Bài thơ đồng chí là bức chân dung sống động về anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng chiến, Chính Hữu đã khắc họa hình ảnh người chiến sĩ với tấm lòng cảm phục và mến thương sâu sắc. Bài thơ lưu lại mãi mãi trong ký ức bao thế hệ cầm súng chống xâm lăng từ đó đến nay. Bởi thế nhắc đến tác giả là người đọc nhớ đến bài thơ tuyệt vời này.

Bài văn phân tích bài thơ Đồng Chí trên hi vọng sẽ là một tài liệu quý giá cho tất cả mọi người.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here