Tự sự Âu Cơ kể lại chuyện về nguồn gốc con rồng chấu tiên lớp 6

Đề bài: Em hãy tự sự Bà Âu cơ kể lại câu chuyện về nguồn gốc cao quý của con người Việt Nam (Con Rồng cháu Tiên)

Bài văn mẫu Tự sự Âu Cơ kể lại chuyện về nguồn gốc con rồng chấu tiên lớp 6

Dòng họ Thần Nông của ta sống ở vùng đồi núi phía Bắc, trong dòng họ có rất nhiều con gái xinh đẹp, giỏi giang, ta được xem là một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần, giỏi giang hơn hẳn. Cha mẹ yêu mến, đặt tên ta là Âu Cơ.

Đến tuổi lấy chồng, trong vùng đã có nhiều trai tài đến cầu hôn nhưng chưa ai làm ta ưng ý. Cha mẹ thì vô cùng mong muốn ta yên bề gia thất, thường khuyên ta chọn một người trong số đó, ta thì chẳng biết chọn ai khi mình không yêu họ. Ta sống những ngày tẻ nhạt trong sự sốt ruột của cha mẹ. Nghe người ta đồn, vùng đât Lạc Việt rất đẹp, có nhiều hoa thơm, cỏ lạ, phong cảnh kì thú, ta bèn xin phép cha mẹ đi chơi một chuyến cũng là mong vơi bớt sự tẻ nhạt, nhàm chán trong cuộc sống thường ngày.

Vùng đất Lạc Việt quả là đẹp thật, ta say sưa hòa bình vào thiên nhiên. Vào một buổi sáng đẹp trời, ta đang dạo trên bờ biển sạch đẹp vô cùng, từng đợt sóng xô bờ tung lên trắng xóa. Chẳng cần suy nghĩ gì, ta đã chạy xuống biển để đùa cùng sóng. Sóng biển cùng với làn gió mát lạnh đã làm ta quên hết những buồn phiền, lo âu. Ta cùng các hầu nữa cứ thỏa thích đẫm mình, giỡn đùa cùng nhau trên biển. Chẳng biết từ lúc nào những đợt sóng đã đưa chúng ta ra quá xa bờ. Đến lúc tất cả đều mệt mỏi thì không có cách nào để vào bờ được, chỉ còn cách kêu cứu, tiếng kêu vang vọng cả một vùng. Thế rồi, trong nháy mắt, xuất hiện một chàng trai mình rồng, sức khỏe vô địch, thần dùng phép lạ đã nhanh chóng đưa tất cả vào bờ. Sau khi trấn tĩnh lại, ta mới nói với chàng: Chàng ơi! Nhờ ơn chàng cứu nạn. Trước khi báo đáp ơn chàn, thiếp muốn chàng cho biết họ tên quê quán. Nghe nói đến ơn huệ, chàng nói với tôi giúp người, cứu nạn, diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Quỷ quái la fvieecj chàng vẫn thường làm. Chàng là một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân, sống ở dưới nước. Thỉnh thoảng chàng lên cạn diệt trừ yêu quái bảo vệ dân lành, dạy cho dân biết cách trồng trọt, chăn nuôi cách ăn ở. Xong việc chàng lại về cới Thủy Cung với mẹ.

Thế rồi một ngày không xa, chàng đã tìm đến và cầu hôn với ta. Ta vô cùng vui sướng vì ước mơ của mình đã trở thành hiện thực. Cha mẹ ta cũng rất hài lòng vì Lạc Long Quân là một chàng trai tài giỏi thật xứng đôi với ta. Cha mẹ đã chọn ngày lành tháng tốt tổ chức cho chúng tôi một đám cưới linh đình. Sau đó hai vợ chồng ta về sống ở cung điện Long Trang.

Ít lâu sau, ta có mang. Đến kì sinh, thật kì lạ, ta sinh ra mọt cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra trăm người con hồng hào đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần.

Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở dưới nước không quen sống mãi ở trên cạn được nên đành từ biệt mẹ con ta để trở về thủy cung. Ở lại một mình cùng đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Ta liền gọi chàng lên mà than rằng:

– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con.
Chàng nói:

– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình, tập quán khác nhau khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.
Nghe chàng nói cũng có lí tôi cùng các con nghe theo. Thế rồi chúng tôi chia tay nhau lên đường.

Chia tay nhau, tôi đem các con trở về vùng đồi phía Bắc nơi dòng họ Thần Nông sinh cơ, lập nghiệp đã nhiều đời. Con trưởng của ta tài giỏi được phong làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương và chọn Phong Châu để đóng đô, đặt tên nước là Văn Lang. Trong triều, con ta phân ra các tướng văn, tướng Võ, quy định con trai vua gọi là lang, con gái gọi là mị nương, khi cha mất thì truyền ngôi cho con trưởng, mười mấy đời truyền ngôi đều lấy hiệu Hùng Vương.


Nghe câu chuyện vừa rồi, hẳn các bạn đã hiểu vì sao, về sau ngời Việt ta khi nhắc đến nguồn gốc của mình đều tự hào xưng là Con Rồng Cháu Tiên.

Bài văn mẫu số 2 Tự sự Âu Cơ kể lại chuyện về nguồn gốc con rồng chấu tiên lớp 6

Chỉ một thoáng thôi mà đã 4000 năm rồi. Nhanh quá các cháu ạ!Ngày ấy, nhà ta ở vùng núi cao quanh năm có hoa thơm, suối chảy róc rách, cha mẹ sinh ra ta và đặt tên là Âu Cơ. Khi ta vừa mười sáu tuổi đẹp như trăng rằm, ta rất thích cung các bạn rong ruổi trên những vùng núi cao tìm hoa thơm, cỏ lạ.

Ngày ngày, ta dạo chơi trong những cánh rừng xinh đẹp, cho đến một hôm mải mê đi tìm những bông hoa đẹp ta đã lạc mất lối về. Giữa lúc đang băn khoăn, lo lắng thì ta bắt gặp một chàng trai cao to, tuấn tú. Chàng tơi hỏi han về tình cảnh và vui vẻ đưa ta ra khỏi cánh rừng đó.

Sau nhiều lần gặp gỡ, ta biết ddujowcj chàng là Lạc Long Quân, mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng mới lên sống ở cạn, chàng rất khỏe mạnh và thường giúp đỡ dân làng diệt trừ yêu tinh, dạy dân cách trồng trọt.

Cảm phục trước con người tài đức ấy, chẳng bao lâu sau, ta và Lạc Long Quân đã nên vợ nên chồng. Cuộc sống của ta và chàng vô cùng hạnh phúc, ngày ngày ta cùng chàng dạo chơi khắp nơi, lúc lên rừng lúc xuống biển.

Một thời gian sau, ta có mang. Cả hai gia đình vô cùng mừng rõ mong đợi đứa cháu đầu tiên ra đời. Còn Lạc Long Quân, chàng cũng vô cùng hạnh phúc chờ đợi đến ngày ta sinh nở. Vào một buổi sáng đẹp trời, ta trở dạ. Tất cả mọi người hồi hộp, khấp khởi mong đợi. Thế nhưng thật lạ thay, ta lại sinh ra một cái bọc trăm trứng. Một thời gian sau, bọc nở ra một trăm người con trai. Chúng lớn nhanh như thổi, đứa nào cũng đẹp đẽ, khôi ngô khác thường.

Hằng ngày, vợ chồng con cái ta dắt nhau lên rừng ngắm hoa, tìm cỏ và có lẽ cuộc sống sẽ mãi như vậy nếu như ta không nhìn thấy nét mặt phảng phất buồn của Lạc Long Quân. Thỉnh thoảng, ta lại thấy chàng đứng trên ngọn núi cao mắt dõi ra phía biển khơi, nới có gia đình chàng đang mong đợi, để lại ta vò võ một mình với bầy con nhỏ. Chàng đi rồi, ta ngày đêm mong đợi. Và lũ trẻ cũng không ngớt lời hỏi ta:

– Cha đâu hả mẹ? Bao giờ cha trở về chúng con?
Ta chẳng biết trả lời chúng ra sao vì chàng đi mà không hẹn ngày trở về. Hằng ngày mẹ con ta dắt nhau ra bờ biển ngóng về phía biển khơi mong mỏi bóng chàng trở về nhưng càng trông chờ càng chẳng thấy. Cho đến một ngày ta quyết định gọi chàng trở về và than thở:
– Chàng định bỏ thiếp và các con đi thật sao? Chàng có biết mẹ con thiếp ngày đêm mong đợi chàng không?

Nghe ta hỏi như vậy Lạc Long Quân cũng rất buồn rầu và nói:
– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương.

Nghe chồng nói vậy ta giật mình phải đối:
– Không! Thiếp không muốn gia đình ta mỗi người một ngả. Thiếp không muốn xa các con và chàng.
Lạc Long Quân lại nói:
– Chúng ta đã từng sống hạnh phúc yêu thương, gắn bó với nhau, bởi thế ta tin rằng khoảng cách chẳng thể nào chia lìa được chúng ta, và sau này có khó khăn hoạn nạn cùng nhau chia sẻ giúp đỡ là được rồi.,

Nghe lời khuyên giải của Lạc Long Quân ta thấy cũng có lí nên đành nghe theo. Ngày chia tay, nhìn chàng và năm mươi đứa con xa dần lòng ta buồn vô hạn, vậy là từ nay ta phải xa chúng thật rồi, biết bao giờ mới gặp lại nhau đây.

Người con trai cả của ta được tôn lên làm vua lấy hiệu là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Còn lại, ta chia cho mỗi con một vùng đất để tự lập ra châu huyện, lập nên các dân tộc: Tay, Nùng, H’Mông, Thái, Mèo, Doa, … với những phong tục tập quán riêng, vô cùng phong phú.

Thế là từ bấy giờ, vợ chồng con cái chúng ta xa nhau nhưng ta và Lạc Long Quân vẫn không quên tình cũ, nhất là các con của ta, dù không ở gần nhau nhưng vẫn gắn bó keo sơn. Mỗi khi gặp khó khăn hoạn nạn chúng lại đoàn kết giúp đỡ nhau vượt qua.

Bây giờ thì các cháu biết rõ chúng ta đều là anh em một nhà, có chung nguồn gốc con lạc cháu hồng. Bởi vậy, các cháu phải biết yêu thương nhau, đùm bọc, đoàn kết giúp đỡ nhau, có thể mới làm vui lòng ta các cháu nhé.

Kể lại sự tích bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Đề bài: Em hãy kể lại sự tích Bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Bài văn mẫu Kể lại sự tích bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Khi về già, vua Hùng có những hai mười người con trai, muốn truyền ngôi nhưng không biết truyền cho con nào cho xứng đáng. Nhà vua bèn gọi các con lại và nói:

Tổ tiên ta từ khi dựng nước đã truyền được sáu đời. Nhờ phúc ấm của Tiên Vương, ta đã đánh tan giặc Ân, thiên hạ được hưởng thái bình. Ta già rồi, muốn người nối ngôi ta phải nối được chí ta. Năm nay, nhân lễ Tiên Vương, hễ con nào làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho.

Các ông Lang ai cũng muốn ngôi báu về mình. Họ không biết làm thế nào để vừa ý cha, chỉ đua nhau làm cỗ sơn hào hải vị cho thật hậu, thật ngon để đem về lễ Tiên vương.

Lang Liêu là con thứ người tám. Mẹ ông trước kia bị vua cha ghẻ lạnh, ốm mà chết. So với anh em, ông thiệt thòi nhất. Từ khi lớn lên, ra ở riêng, ông chỉ chăm lo việc đồng áng, chỉ nhiều lúa, nhiều khoai. Khoai lúa thì tầm thường quá, làm sao so với sơn hào hải vị của những người anh em khác được.

Kể lại sự tích bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Một đêm, ông nằm mộng thấy thần đến bảo:

Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có hạt gạo mới nuôi sống được con người, ăn không bao giờ chán. Hãy lấy hạt gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương.

Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng lắm. Ông bèn chọn thứ gạo nếp thơm, trắng tinh, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh và thịt lớn làm nhân, rồi lấy lá dong trong vườn gói lại thành hình vuông, nấu thật nhừ. Ông lại lấy gạo nếp đồ lên, giã nhuyễn, nặn thành hình tròn.

Ngày lễ Tiên Vương, các ông Lang mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng đến. Vua xem qua một lượt và dừng lại ở chồng bánh chứng của Lang Liêu, lấy làm vừa ý. Vua gọi lên hỏi. Lang Liêu kể lại giấc mộng gặp thần. Vua cha ngẫm nghĩ hồi lâu rồi chọn bánh của chàng đem tế trời, đất và Tiên Vương.

Lễ xong vua cho đem bánh ra ăn, ai cũng khen ngon. Vua họp mọi người lại và nói:

– Bánh hình tròn tượng trưng cho trời, đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông tượng trưng cho đất, lại có các thứ nhân tượng trưng cho cầm thù, cỏ cây muôn loài, đặt tên là bánh chưng. Là bọc ngoài, mĩ vị ở trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu dâng lễ vật vừa ý ta, sẽ nối ngôi ta, có Tiên Vương chứng giám.

Từ đấy nhân dân ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và nước ta có tục bánh chứng, bánh giầy ngày Tết.

Tường thuật lại buổi Đại Hội Chi đội của lớp em

Đề bài: Em đã từng tham gia buổi Đại Hội Chi đội của lớp. Em hãy tường thuật và phát biểu cảm nghĩ về buổi đại hội đó.

Bài văn mẫu Tường thuật lại buổi Đại Hội Chi đội của lớp em

Cũng như mọi năm, năm học này bắt đầu gần một tháng thì lớp em tổ chức Đại hội chi Đội. Đại hội này sẽ đề ra những phương hướng phấn đầu cho cả lớp trong năm học mới và bầu ra Ban chỉ huy mới để điều hành mọi hoạt động của chi đội.

Sau tiết học cuối vào ngày thứ bảy tuần trước, cả lớp náo nức chuẩn bị cho buổi đại hội. Thật ra không khí chuẩn bị này đã lôi cuốn nhiều bạn từ mấy hôm nay. Nhóm chuẩn bị trang trí, lo kiếm vải, giấy màu, hoa, khăn phủ bàn…, nhóm tiếp tân lo ấm chén, bánh kẹo. Riêng nhóm văn nghệ thì ngày tư đầu tuần đã đi sớm về muộn, kiếm chỗ tập hát, tập ngâm thơ. Chưa đầy nửa tiếng, lớp em đã thay đổi hẳn bộ mặt. Một băng vải xanh tươi căng kín tường lớp phía trên tấm bảng, dán hàng chữ vàng rực:” Chào mừng Đại hội Chi đội lớp…!” Tấm bảng đen được lau sạch bong, nổi bật hình vẽ bó hoa rực rỡ bằng phấn màu và khẩu hiệu chữ cỡ lớn:” Quyết phấn đấu có những học sinh giỏi, học sinh tiên tiến”. Bàn thầy giáo được phủ kín bằng một tấm ni lông hoa xanh biếc, trên đặt một bình pha lê cắm chùm hồng nhung tươi mơn mởn. Bàn học cũng được xếp lại, ghép đôi và phủ kín bằng những tấm vải trắng. Cát-xét liên tiếp phát ra những ca khúc truyền thống của Đội, của Đoàn… Có cả một bàn riêng cho chủ tịch và thư kí đại hội, trên bảng còn ghi rõ vị trí mỗi người, hai bên đầu bảng là quốc kì và cờ Đội.

Tường thuật lại buổi Đại Hội Chi đội của lớp em

Sau khi bạn Thúy Vi thay mặt ban tổ chức nói lí do buổi họp, tất cả chúng em với trang phục mới và đẹp đứng dậy, theo hiệu lệnh đồng thanh hát quốc ca và đội ca. Tiếng ca hôm nay nghe đầy khí thế. Thúy Vi mời bạn Thanh Vân- Chi đội trưởng năm ngoái – lên đọc ý nghĩa của chủ đề ” Môi trường của chúng em” trong năm học này. Giọng Vân trong trẻo, rành rọt kêu gọi chúng em gìn giữ sạch và xanh cho môi trường, loại trừ mọi văn hóa phẩm xấu, tích cực tham gia mọi hoạt động của trường. “Chúng ta đã là chi đội gương mẫu của khối, chi đội mạnh của trường. Chúng ta sẽ giữ vững danh hiệu đó, nhất định thế chú các bạn?” Cả lớp vang lên hai tiếng “Nhất định!”, hưởng ứng lời kêu gọi của bạn Vân.

Và giây phúc hồi hộp đã đến. Hai bạn khiêng tấm bảng thông tin vào kê lên bục. Trên bảng, nắn nót tên bốn bạn ứng củ viên vào Ban Chỉ huy chi đội. Thế là bí mật từ sáng các bạn bàn tán, đoán hỏi nhau, lúc này đã được “bật mí”. Trong số này, em biết rõ nhất Vân.” Có lẽ, kì này Vân sẽ tiếp tục làm chi đội trưởng đây”. Học giỏi này, ăn nói lại rất dễ nghe nữa này! Em nghĩ thầm như vậy. Cứ chờ xem! Ban kiểm phiếu đi phát phiếu bầu, trên mỗi phiếu có in họ tên bốn ứng cử viên, ai cũng đáng tín nhiệm cả, biết gạt bỏ ai bây giờ? Cuối cùng, em cũng lựa chọn được những bạn ưu tú nhất. Em bỏ phiếu vào thùng mà sao lòng hồi hộp. Liệu Vân thế nào đây – nhân vật chọn mặt gửi vàng số một của em đấy!

Trong khi chờ kết quả, chúng ăm ăn bánh kẹo, vừa trò chuyện râm ran, vừa lắng nghe những “ca sĩ”, “ngâm sĩ” lên biểu diễn. Có cả một đại biểu chi đội bạn cùng góp một mục đố vui. Sau mục này, bạn Thúy Vi nhắc nhở mọi người trở lại trật từ để nghe ban kiểm phiếu công bố kết quả. Chi đội trưởng vẫn là Hoàng Thị Thanh Vân. Còn chi đội phó là một bạn nữa mới đến từ trường chuyên tỉnh bạn. Ủy viên chi đội là bạn Thế Huân – đã từng là học sinh giỏi Toán cấp quận. Toàn những gương mặt tiêu biểu. Chắc kì này chi đội lớp em sẽ tiếp tục đạt những thành tích cao như năm ngoái.

Một hồi trống vang lên bất ngờ báo hiệu giờ kết thúc buổi lễ. Hoàn thành nghi thức chào cờ xong, cả lớp em phấn khởi ra về. Năm học mới, ban chỉ huy mới, chắc chắn kì này chúng ta sẽ phấn đấu “ra trò” hơn cả năm ngoái.

Nghị luận xã hội về đức tính khiêm tốn

Đề bài: Em hãy viết bài văn nghị luận về đức tính khiêm tốn

  • Mở bài:nghị luận về đức tính khiêm tốn

Muốn được người khác yêu mến và kính trọng ta cần phải khiêm tốn. Khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người.

  • Thân bài:nghị luận về đức tính khiêm tốn

* Nghị luận về đức tính khiêm tốn: Khái niệm khiêm tốn là gì?

Khiêm tốn hay còn gọi là khiêm nhường, khiêm cung, là sự kính nhường, có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân, không kiêu căng, tựu mãn, không tự hco mình là hơn người khác, luôn hướng về phía tiến bộ, không ngừng học hỏi ở người khác và trong cuộc sống.

* Nghị luận về đức tính khiêm tốn: Người có đức tính khiêm tốn là người như thế nào?

Người có đức tính khiêm tốn là người biết kính trên nhường dưới, không tự mãn về những gì mình có, không kiêu ngạo về những gì mình làm, luôn cẩn thận gìn giữ những giá trị mình nhận được. Họ là những người có tính nhã nhặn, sống nhún nhường, luôn luôn hướng thượng, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, luôn đề cao tri thức và sự hiểu biết, hoài bão của cá nhân là tiến mãi không ngừng, chủ đích là không khoe khoang, không tự đề cao cá nhân mình với người khác.

Người khiêm tốn luôn có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu. Họ luôn thành kính, biết tôn trọng lẫn nhau, để có thể học hỏi được từ người khác.

Người có lòng khiêm tốn luôn khiêm nhường học hỏi, theo đuổi tận cùng các giá trị tốt đẹp, tôn trọng tri thức, con người và đề cao những gì tốt đẹp, chuẩn mực trong cuộc sống, luôn giữ gìn nhân cách lành mạnh, cao thượng.

* Nghị luận về đức tính khiêm tốn: Biểu hiện của người khiêm tốn:

Biểu hiện cao nhất của sự khiêm tốn là lòng biết ơn. Người khiêm tốn luôn thể hiện sự trân trọng và tri ân của mình đối với thành quả lao động. Bởi đó là kết tinh của sức lực và tinh thần, của tình yêu thương và trách nhiệm đối với cuộc sống mà bản thân mình phải giữ gìn, học hỏi.

Người có sẵn tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường không đáng kể, luôn luôn tìm đủ mọi phương diện để học hỏi thêm lên. Họ luôn là người giàu khát vọng, có ý chí vươn cao, vươn xa đạt được những thành tựu lớn lao và cống hiến hết mình cho xã hội.

Người khiêm tốn luôn khát khao học hỏi, hay tự cho mình là kém, còn phải tiến thêm nữa và cần phải trau dồi nhiều hơn nữa. Họ không bao giờ biểu lộ sự tự mãn về những gì mình có, mình biết, nhờ vậy dễ tạo được sự đồng cảm và mối quan hệ thân thiện với người khác trong giao tiếp,nên kết giao được với nhiều người.

Người khiêm tốn không đề cao mình và hạ thấp người khác, không so sánh thiệt hơn, nên bản thân luôn vô vi, an lạc và hạnh phúc. Trong công việc họ luôn cầu tiến, tương trợ lẫn nhau, khiêm nhường lắng nghe và chia sẻ kinh nghiệm một cách chân thành.

* Nghị luận về đức tính khiêm tốn: Tại sao sống phải có lòng khiêm tốn?

Khiêm tốn là một trong những đức tính tiêu biểu, cao quý của con người, là một mẫu đức của dân tộc ta. Đây cũng là một đức tính quý báu của cha ông ta.

Người sống có lòng khiêm tốn luôn được người khác kính trọng, yêu thương và giúp đỡ. Bởi thế người có đức tính khiêm tốn luôn dễ thành công trong cuộc sống.

Sống có lòng khiên tốn sẽ giúp ta loại bỏ mọi thói hư tật xấu, thanh lọc tâm hồn, nâng cao nhân cách, tăng cường tình yêu cuộc sống và niềm tin tưởng vào con người.
– Tri thức là vô tận, bởi thế phải khiêm nhường học hỏi để tiến bộ. Sự kiêu căng có thể làm hỏng cả một thiên tài. Không biết thỏa mãn, đố kị, ghen tuông với thành tự của người khác sẽ khiến ta thấp hèn, đau khổ.

Sống có lòng khiêm tốn sẽ khiếm ta bình tâm vượt qua trở ngại, hạn chế được những vấp váp do vội vã trên đường đời. Sống có lòng khiêm tốn sẽ giúp ta có đủ thời gian để cảm nhận và thêm yêu cuộc sống, biết trân trọng các giá trị hiện có và nhìn rõ được những cơ hội ở tương lai.

Người sống có đức tính khiêm tốn sẽ trở thành mẫu mực là tấm gường sáng để người khác học hỏi, noi gương.

* Nghị luận về đức tính khiêm tốn: Những tấm gương sáng về đức tính khiêm tốn:

Các bậc vĩ nhân đều là những tấm gương sáng ngời về đức khiêm tốn. Dù đạt nhiều thành tựu trong cuộc đời, cống hiến hết mình cho sự tiến bộ của xã hội nhưng hầu hết họ đều xem như thế là chưa đủ. Họ suốt đời học hỏi, tìm tòi và sáng tạo. Bởi thế, nhà bác học Dacuyn đã từng ân cần khiêm tốn nói với con gái: “Bác học không cón gnhiax là ngừng học” biểu hiện rực rỡ tính khiêm tốn ở con người.

 

Bác Hồ của chúng ta là một người khiêm tốn, thậm chí rất khiêm tốn. Giữ chức vụ cao nhất của Nhà nước ta, là một trong những lãnh tụ xuất sắc của phong trào cách mạng thế giới…, được ghi nhận là “Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất”, nhưng Người vẫn chỉ xem mình là một nhà cách mạng chuyên nghiệp phục vụ nhân dân với lòng khiêm tốn vô hạn. Tấm gương cuộc đời Bác là một định nghĩa hết sức sinh động về sự khiêm tốn.

* Nghị luận về đức tính khiêm tốn: Làm thế nào để rèn luyện đức tính khiêm tốn?

Để rèn luyện được tính khiêm tốn trước hết phải sống bao dung. Sống bao dung giúp ta nhận rõ lẽ đúng sai, hơn kém, biết trân trọng con người và hành động đúng đắn đem lại lợi ích thiết thực trong cuộc sống.

Hãy biết ơn và biết trân trọng những giá trị hiện có trong cuộc sống, thể hiện lòng thành kính đối với các bậc ch ông đi trước đã có công tạo dựng cuộc sống cho chúng ta thụ hưởng. Lòng biết ơn giúp ta nhận ra những thiếu sót của mình, biết tha thứ cho lỗi lầm của người khác và chân thực nhìn ra những khía cạnh của mình một cách đúng đắn nhất.

Không bao giờ so sánh thiệt hơn, biết lắng nghe và thấu hiểu, biết cảm nhận cuộc sống bằng chính tâm hồn chân thiện của mình. Biết sống đúng theo những chuẩn mực được xã hội công nhận và đề cao. Không khoe khoa, tự phụ hay đề cao bản thân, biết chấp nhận giới hạn và nhu cầu của bản thân ở mức cân bằng, không có lòng tham hay sự thù ghét người khác.

Biết kính trọng người giỏi (hiểu biết hơn mình) và nhường nhịn giúp đỡ người yếu (chưa biết) hơn mình. Chăm chỉ học hỏi trau dồi bản thân, luôn cầu thị sự hiểu biết, không cầu thị sự thể hiện. Biết ơn những gì mình đã nhận được, biết ơn mọi người xung quanh mình, vì có họ mới có tổ chức, có môi trường của mình, và mới có sự tồn tại của mình ở đây.

Tất cả vì sự hoàn thành mục tiêu công việc, vì đó là thước đo giá trị của bản thân mình, không vì sự thỏa mãn, vì sự thể hiện hay vì lợi ích cá nhân. Ham học hỏi, khiêm nhường học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ người khác thành công là bí quyết thành công của các thiên tài.

Hiểu như thế chúng ta mới thấy rằng, bản chất thật của con người thì quí trọng hơn những giá trị chóng qua bên ngoài. Vì thế, tập luyện sống khiêm tốn đúng mức sẽ giúp chúng ta đi tới sự thật ấy. Khiêm tốn sẽ sinh hoa quả bình an, tự tại.

  • Kết bài:nghị luận về đức tính khiêm tốn

Khiêm tốn là một đức tính cần có ở mỗi người. Mỗi chúng ta ngày nay với những con người có tài năng thì hãy biết xây dựng bồi đắp và rèn luyện cho mình đức tính khiêm tốn này bởi vì chỉ có thế thì bạn mới được lòng những người xung quanh mình và nhận lại những cái mình học hỏi từ họ, cả sự kính trọng yêu mến của họ dành cho mình nữa.

 

Kể lại buổi đi thăm mộ người thân trong dịp lễ Thanh Minh

Đề bài: Đã có lần em cùng gia đình đi thăm mộ người thân trong dịp thanh minh. Em hãy kể về buổi đi thăm đáng nhớ đó.

Bài văn mẫu Kể lại buổi đi thăm mộ người thân trong dịp lễ Thanh Minh

Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Nguyễn Du đã viết như thế về phong tục tảo mộ ngày Tết thanh minh – Một phong tục đẹp của dân tộc. Mỗi khi Tết đến, tôi luôn mong chờ tói ngày ấy để được đi thăm mộ bà với biết bao nỗi niềm, cảm xúc.

Tiết Thanh Minh, vạn vật trong trời đất như choàng tỉnh sau giấc ngủ đông và khoác trên mình tấm áo mùa xuân tươi tắn. Những giọt nắng xuân vàng ương trải trên nẻo đường làng thật ấm áp. Những bông lau bên đường khẽ đưa mình trong gió, gợn sóng mềm mại. Hương mùa xuân thoảng nhẹ đâu đây…

Tôi và gia đình bước vào khu yên nghỉ của những người đã khuất. Nơi này nằm xa khu dân ở, nhưng ngày vào Thanh minh, rất đông người đi tảo mộ. Nhưng ai cũng thành kính nên không khí vẫn khá tĩnh lặng. Những nấm mộ nằm lặng yên. Không gian nơi đây tưởng chừng như ngưng lại trong sự vĩnh hằng. Đến phần mộ của bà tôi, mẹ và chị cung kính bày đồ lễ, cắm nhang lên mộ bà. Sau đó, mẹ bảo chị tôi đi thắp nhang ở các ngôi mộ xung quanh. Tôi đứng lặng trước mộ bà. Trong hương trầm nghi ngút, những kỉ niệm về bà chợt tràn về như vừa mới hôm qua thôi. Tôi nhớ những ngày bà bế tôi đi chơi khắp làng. Tôi nhớ hơi ấm của bà, nhớ dáng bà mỗi sớm tính sương thổi bếp rạ, nướng của khoai thơm phức.

Hồi bé, tôi thường theo bà dậy sớm, thích ngồi cuộn lại trong lòng bà như một con mèo nhỏ, với tay đun bếp cùng bà. Hởi lửa làm đỏ bừng hai má, tôi vừa thổi vừa ăn miếng khoai nướng ngọt đến mềm môi… Thuở bé thơ, hai chị em tôi thường giành nhau chải tóc cho bà. Tóc bà dài, lốm đốm sợi bạc, thoảng mùi bồ kết… Tôi nhớ khôn nguôi mùi hương ấm nồng ấy. Lúc nhỏ, tôi là đứa trẻ hậu đậu, vùng về nhưng bà chẳng bao giờ mắng tôi. Bà dạy tôi mọi thứ, cẩn trọng, rõ ràng như truyền cho tôi kinh nghiệm đã được chắt chiu cả một đời. Vậy mà giờ đây, bà nằm một mình trong lòng đất lạnh, trống trải và cô đơn… Tôi gắn bó bên bà cả một thời thơ bé. Nhờ sự dạy dỗ của bà, tâm hồn tôi trong trẻo hơn, trái tim tôi hiểu thế nào là nhân ái. Bây giờ tôi đã lớn khôn. Tôi đã biết tự chăm lo cho bản thân, làm việc mà không còn hậu đậu vụng về nữa nhưng bà lại chẳng còn có dịp nhìn thấy thành quả của mình được nữa.

Bỗng tiếng mẹ gọi hóa vàng như kéo tôi ra khỏi thế giới tuổi thơ tràn ngập hình bóng của bà. Tôi nghĩ chắc bà rất vui vì con cháu đã ra thăm bà đông đủ. Nhưng chắc bà vui hơn khi biết bà luôn trong tâm trí của cả gia đình với những kỉ niệm thật êm đềm.

Mẹ tôi thường dạy:” Việc chăm sóc ngôi mộ, giữ gìn nơi an nghỉ của tổ tiên chính là cách để con cháu bày tỏ lòng nhớ thương tới những người đã mất”. Có thể bà đã đi xa mãi nhưng bà vẫn sống trong lòng tôi và tất cả mọi người trong gia đình. Tôi tin bà đang dõi theo từng bước đường đời của đứa cháu yêu và nhất định bà sẽ mỉm cười nên chín suối/