Bài văn tả mùa xuân lớp 7

Bài mẫu văn tả mùa xuân lớp 7

Đông qua xuân đến. Khi từng đàn chim en chao lượn trên bầu trời mang báo hiệu mùa xuân về. Không còn những mùa đông lạnh giá thay vào đó là một không khí ấm áp dịu hiền. Thời điểm kỳ hiệu mùa xuân đến khiến cho tâm hồn cho chúng ta luôn cảm giác yêu đời hơn. Mùa xuân được ví như nàng thơ xinh đẹp mà thượng đế đã bạn tặng cho con người, đây là một món quà vô giá, tô điểm cho cảnh sắc thiên nhiên thêm tươi thắm hơn.

Xuân về trăm hoa đua nở cũng tư khắp nơi bay về hưởng cảnh sắc mùa xuân, mùa hội tụ sau một mùa đông dài giá lạnh. Mùa xuân – mùa của sự sinh sôi nảy nở, đem sống đến cho muôn nơi, len qua từng chiếc lá, cành cây, chiếc lá… Hơi ấm của mùa xuân lướt nhẹ nhàng qua từng con phố, nhẹ bay trên những con đường hòa vào dòng người và chúng ta cảm nhân được mùa xuân đang về. Xuân về, hơi ấm của mùa xuân tan tỏa khắp nơi, vạn vật như bừng tỉnh sau những đêm dài giá buốt. Vạn vật bừng tỉnh hít thở từng hơi nhỏ bừng tỉnh sau những ngày ngủ vùi.

Mùa xuân là mùa của sựu sống mà sự sinh soi và nảy nở. Những hạt mùa xuân nhè nhẹ, lất phất như những bàn tay mềm mại, âu yếm vuốt ve những mầm non vừa nhú, giúp chúng nhanh chóng nảy nở để đón những ánh nắng ban mai. Khắp nơi đều như trải thảm nhờ những bông hoa rực rỡ. Mùa xuân cũng là mùa thi đua khoe sắc. Nếu như có dịp ngược lên Tây Bắc rộng lớn các bạn sẽ thấy được những bông hoa rừng đua nhau nở, cây cối bắt đầu nhú những chồi non chuẩn bị vươn lên. Khắp làng phố, làng quê cây cối đều khoác lên trên mình một lớp chồi xanh tươi mang đầy nhựa sống.

Con người chúng ta cũng không nằm ngoài lẽ tự nhiên ấy. Tất cả mọi người đều cảm thấy vô cùng vui vẻ. Xuân về cùng với quất, hồng đào, thắm và những cánh én xôn xao, đâu đó thoảng tiếng khèn gọi bạn tình ở trên vùng núi cao, thấy được những ánh mắt ấm áp dành cho nhau.

Không khí đất trời như đang bước qua một trang mới. Tất cả mọi vật sẽ có thêm sinh mới để hòa thêm không khí của trời đất. Mùa xuân là mùa của thiên nhiên thiên đất trời và vạn vật.

Bài làm 2:

Cơn gió lạnh thổi qua, những chiếc lá rập rờn theo, có một vài chiếc rơi lả tả gốc gốc cây. Bừng tỉnh giật mình, hình nhưu nàng xuân đang gõ cửa, thập thò, rụt rè. Chúng chưa hẳn đã bước sang mùa xuân nhưng nó cũng khiến cho tâm hồn của con người xao động.

Trong 4 mùa xuân, hạ, thu, đông có thể nói mùa xuân là mùa đẹp nhất. Mùa xuân như một nàng công chúa yêu kiều diễm lệ đánh thức hết tất cả mọi giác quan của con người và vạn vật.

Trên khắp phố phường, cây cỏ dang cành lá quấn quýt với gió xuân, làm lòng ta tràn ngập niềm vui sướng hạnh phúc, bồi hồi nghe những lời ca chân thành của người nhạc sĩ.  Mùa xuân dặt dìu theo con én lượn về xa xa những giọt nắng trưa vàng cũng những làn khói nhẹ bồng bềnh len nhẹ qua vòm cây, làm xao xuyến lòng người. Người lớn hớn hở trước cảnh mùa xuân xinh tươi, trẻ con náo nức trong không khí đón xuân về.

Mùa xuân là mùa của đất trời giao hòa, của của hi vọng và ước mơ. Nó còn đại diện cho sự đâm chồi nảy lộc, mùa của những mầm xanh mơn mởn thoát ra khỏi vỏ xù xì của mùa đông. Mùa xuân đến báo hiệu chúng ta lại có thêm một tuổi mới, đánh dấu sự trường thành cả về thể chất lẫn tâm hồn. Đất trời mùa xuân giao hòa vào nhau, tạo cho con người thêm niềm tin và hi vọng. Những chồi non đuanhau tác ra khỏi vỏ cây để vươn vai ra chào đón một năm mới với những tia nắng ấm áp diệu kỳ.Mùa xuân còn là thời khác thiêng liêng nhất khi mà chúng ta có thể đoàn tụ cùng gia đình sau một năm làm việc vất vả.

Những ai có tâm hồn yêu cái đẹp chắc hẳn đã từng có hơn một lần rung động trước vẻ đẹp của mùa xuân. Nó mang lại sức sống cho muôn loài, xuân tươi vui từ cái nắng vàng, hửng lên, từ những chồi non xanh mơn mởn… Cái lạnh cắt da thịt đã không còn mà thay vào đó là sự ngọt ngào ấm áp của cái rét đầu đông. Những cơn mưa phùn lất phất đã mang đến cho chúng ta một cảm giác thật tuyệt vời. Cả đất trời như đang được hồi xuân khi mùa xuân vừa về.

Đối với tôi mùa xuân luôn có một ý nghĩa hoàn toàn đặc biệt. Trong một ngày nắng tạnh tiết xuân ấm áp và trong trẻo, luôn mang trong tôi một cảm giác nôn nao đến khó tả. Khi ấy không còn sự vui sướng và hạnh phúc nữa mà thay vào đó là cảm giác nuối tiếc, muốn níu kéo tất cả những cảm giác này lại.

Mùa xuân đến giúp cho con người gần gùi với thiên nhiên hơn, giúp con người ta hòa mình vào thiên nhiên trong không khí giao mùa. Chính những điều được tạo hóa ban tặng này tạo cho con người thêm động lực hơn đối với cuộc sống. Những ai chưa từng biết trân trọng khoảnh khắc này thì hãy đón nhận mùa xuân với một tâm thế thoải mái nhất nhé.

 

Kể lại sự tích bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Đề bài: Em hãy kể lại sự tích Bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Bài văn mẫu Kể lại sự tích bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Khi về già, vua Hùng có những hai mười người con trai, muốn truyền ngôi nhưng không biết truyền cho con nào cho xứng đáng. Nhà vua bèn gọi các con lại và nói:

Tổ tiên ta từ khi dựng nước đã truyền được sáu đời. Nhờ phúc ấm của Tiên Vương, ta đã đánh tan giặc Ân, thiên hạ được hưởng thái bình. Ta già rồi, muốn người nối ngôi ta phải nối được chí ta. Năm nay, nhân lễ Tiên Vương, hễ con nào làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho.

Các ông Lang ai cũng muốn ngôi báu về mình. Họ không biết làm thế nào để vừa ý cha, chỉ đua nhau làm cỗ sơn hào hải vị cho thật hậu, thật ngon để đem về lễ Tiên vương.

Lang Liêu là con thứ người tám. Mẹ ông trước kia bị vua cha ghẻ lạnh, ốm mà chết. So với anh em, ông thiệt thòi nhất. Từ khi lớn lên, ra ở riêng, ông chỉ chăm lo việc đồng áng, chỉ nhiều lúa, nhiều khoai. Khoai lúa thì tầm thường quá, làm sao so với sơn hào hải vị của những người anh em khác được.

Kể lại sự tích bánh chưng, bánh giầy và nêu ý nghĩa của truyền thuyết

Một đêm, ông nằm mộng thấy thần đến bảo:

Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có hạt gạo mới nuôi sống được con người, ăn không bao giờ chán. Hãy lấy hạt gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương.

Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng lắm. Ông bèn chọn thứ gạo nếp thơm, trắng tinh, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh và thịt lớn làm nhân, rồi lấy lá dong trong vườn gói lại thành hình vuông, nấu thật nhừ. Ông lại lấy gạo nếp đồ lên, giã nhuyễn, nặn thành hình tròn.

Ngày lễ Tiên Vương, các ông Lang mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng đến. Vua xem qua một lượt và dừng lại ở chồng bánh chứng của Lang Liêu, lấy làm vừa ý. Vua gọi lên hỏi. Lang Liêu kể lại giấc mộng gặp thần. Vua cha ngẫm nghĩ hồi lâu rồi chọn bánh của chàng đem tế trời, đất và Tiên Vương.

Lễ xong vua cho đem bánh ra ăn, ai cũng khen ngon. Vua họp mọi người lại và nói:

– Bánh hình tròn tượng trưng cho trời, đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông tượng trưng cho đất, lại có các thứ nhân tượng trưng cho cầm thù, cỏ cây muôn loài, đặt tên là bánh chưng. Là bọc ngoài, mĩ vị ở trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu dâng lễ vật vừa ý ta, sẽ nối ngôi ta, có Tiên Vương chứng giám.

Từ đấy nhân dân ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và nước ta có tục bánh chứng, bánh giầy ngày Tết.

Tường thuật lại buổi Đại Hội Chi đội của lớp em

Đề bài: Em đã từng tham gia buổi Đại Hội Chi đội của lớp. Em hãy tường thuật và phát biểu cảm nghĩ về buổi đại hội đó.

Bài văn mẫu Tường thuật lại buổi Đại Hội Chi đội của lớp em

Cũng như mọi năm, năm học này bắt đầu gần một tháng thì lớp em tổ chức Đại hội chi Đội. Đại hội này sẽ đề ra những phương hướng phấn đầu cho cả lớp trong năm học mới và bầu ra Ban chỉ huy mới để điều hành mọi hoạt động của chi đội.

Sau tiết học cuối vào ngày thứ bảy tuần trước, cả lớp náo nức chuẩn bị cho buổi đại hội. Thật ra không khí chuẩn bị này đã lôi cuốn nhiều bạn từ mấy hôm nay. Nhóm chuẩn bị trang trí, lo kiếm vải, giấy màu, hoa, khăn phủ bàn…, nhóm tiếp tân lo ấm chén, bánh kẹo. Riêng nhóm văn nghệ thì ngày tư đầu tuần đã đi sớm về muộn, kiếm chỗ tập hát, tập ngâm thơ. Chưa đầy nửa tiếng, lớp em đã thay đổi hẳn bộ mặt. Một băng vải xanh tươi căng kín tường lớp phía trên tấm bảng, dán hàng chữ vàng rực:” Chào mừng Đại hội Chi đội lớp…!” Tấm bảng đen được lau sạch bong, nổi bật hình vẽ bó hoa rực rỡ bằng phấn màu và khẩu hiệu chữ cỡ lớn:” Quyết phấn đấu có những học sinh giỏi, học sinh tiên tiến”. Bàn thầy giáo được phủ kín bằng một tấm ni lông hoa xanh biếc, trên đặt một bình pha lê cắm chùm hồng nhung tươi mơn mởn. Bàn học cũng được xếp lại, ghép đôi và phủ kín bằng những tấm vải trắng. Cát-xét liên tiếp phát ra những ca khúc truyền thống của Đội, của Đoàn… Có cả một bàn riêng cho chủ tịch và thư kí đại hội, trên bảng còn ghi rõ vị trí mỗi người, hai bên đầu bảng là quốc kì và cờ Đội.

Tường thuật lại buổi Đại Hội Chi đội của lớp em

Sau khi bạn Thúy Vi thay mặt ban tổ chức nói lí do buổi họp, tất cả chúng em với trang phục mới và đẹp đứng dậy, theo hiệu lệnh đồng thanh hát quốc ca và đội ca. Tiếng ca hôm nay nghe đầy khí thế. Thúy Vi mời bạn Thanh Vân- Chi đội trưởng năm ngoái – lên đọc ý nghĩa của chủ đề ” Môi trường của chúng em” trong năm học này. Giọng Vân trong trẻo, rành rọt kêu gọi chúng em gìn giữ sạch và xanh cho môi trường, loại trừ mọi văn hóa phẩm xấu, tích cực tham gia mọi hoạt động của trường. “Chúng ta đã là chi đội gương mẫu của khối, chi đội mạnh của trường. Chúng ta sẽ giữ vững danh hiệu đó, nhất định thế chú các bạn?” Cả lớp vang lên hai tiếng “Nhất định!”, hưởng ứng lời kêu gọi của bạn Vân.

Và giây phúc hồi hộp đã đến. Hai bạn khiêng tấm bảng thông tin vào kê lên bục. Trên bảng, nắn nót tên bốn bạn ứng củ viên vào Ban Chỉ huy chi đội. Thế là bí mật từ sáng các bạn bàn tán, đoán hỏi nhau, lúc này đã được “bật mí”. Trong số này, em biết rõ nhất Vân.” Có lẽ, kì này Vân sẽ tiếp tục làm chi đội trưởng đây”. Học giỏi này, ăn nói lại rất dễ nghe nữa này! Em nghĩ thầm như vậy. Cứ chờ xem! Ban kiểm phiếu đi phát phiếu bầu, trên mỗi phiếu có in họ tên bốn ứng cử viên, ai cũng đáng tín nhiệm cả, biết gạt bỏ ai bây giờ? Cuối cùng, em cũng lựa chọn được những bạn ưu tú nhất. Em bỏ phiếu vào thùng mà sao lòng hồi hộp. Liệu Vân thế nào đây – nhân vật chọn mặt gửi vàng số một của em đấy!

Trong khi chờ kết quả, chúng ăm ăn bánh kẹo, vừa trò chuyện râm ran, vừa lắng nghe những “ca sĩ”, “ngâm sĩ” lên biểu diễn. Có cả một đại biểu chi đội bạn cùng góp một mục đố vui. Sau mục này, bạn Thúy Vi nhắc nhở mọi người trở lại trật từ để nghe ban kiểm phiếu công bố kết quả. Chi đội trưởng vẫn là Hoàng Thị Thanh Vân. Còn chi đội phó là một bạn nữa mới đến từ trường chuyên tỉnh bạn. Ủy viên chi đội là bạn Thế Huân – đã từng là học sinh giỏi Toán cấp quận. Toàn những gương mặt tiêu biểu. Chắc kì này chi đội lớp em sẽ tiếp tục đạt những thành tích cao như năm ngoái.

Một hồi trống vang lên bất ngờ báo hiệu giờ kết thúc buổi lễ. Hoàn thành nghi thức chào cờ xong, cả lớp em phấn khởi ra về. Năm học mới, ban chỉ huy mới, chắc chắn kì này chúng ta sẽ phấn đấu “ra trò” hơn cả năm ngoái.

Cách phân biệt 8 biện pháp tu từ hiệu quả nhất

Một trong những lỗ hổng kiến thức mà các em thường sai sót nhiều nhất trong các đề thi chính là các biện pháp tu từ. Sau đây là cách phân biệt 8 biện pháp tu từ để giúp các em tránh được những thiếu xót đó.

Môn ngữ văn một môn học trừu tượng, yêu cầu các em phải biết vận dụng và sáng tạo giữa kiến thức trên sách vở và kiến thức thực tế. Tuy nhiên, đa phần học sinh chỉ xem đây là một môn học phụ, không cần thiết, xem nhẹ vai trò của môn ngữ văn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của các em và hổng kiến thức là điều không thể tránh khỏi. Tại sao các em lại hay nhẫm lẫn ở dạng bài này? Cách phân biệt 8 biện pháp tu từ như thế nào để tránh nhầm lẫn?

Dạng bài tập xác định biện pháp tu từ yêu cầu các em phải nắm rõ từng định nghĩa, cách sử dụng để phân biệt được các dạng biện pháp này. Tuy nhiên, các em lại học thuộc bài một cách thụ động, không có tư duy logic. Nhiều học sinh thuộc định nghĩa, thuộc các ghi nhớ trong sách giáo khoa nhưng khi làm bài tập lại không thể làm được bất cứ dạng bài nào. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm cần phải khắc phục nhanh chóng cho những trường hợp trên.

Hiểu và nắm bắt được thực trạng trên của các em học sinh, sau đây chúng tôi xin được chia sẻ một số lưu ý để hướng dẫn các em học sinh ghi nhớ và phân biệt 8 biện pháp tu từ một cách chủ động nhất:

  1. Để phân biệt 8 biện pháp tu từ ta phải biết khái niệm biện pháp so sánh

– Khái niệm: so sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng

– Tác dụng: Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự vật được nhắc tới, khiến cho câu văn thêm phần sinh động, gây hứng thú với người đọc

– Dấu hiệu nhận biết: Có các từ ngữ so sánh: “là”, “như”, “bao nhiêu…bấy nhiêu”. Tuy nhiên, các em nên lưu ý một số trường hợp, từ ngữ so sánh bị ẩn đi.

Ví dụ:

+ Trẻ em như búp trên cành

+ Người ta là hoa đất

+ “Trường Sơn: chí lớn ông cha

Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào”

  1. Phân biệt 8 biện pháp tu từ qua khái niệm nhân hóa

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ,… vốn dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật,…

– Tác dụng: Làm cho sự vật, đồ vật, cây cối trở nên gần gũi, sinh động, thân thiết với con người hơn

– Dấu hiệu nhận biết: Các từ chỉ hoạt động, tên gọi của con người: ngửi, chơi, sà, anh, chị,…

Ví dụ:

+ “ Chị ong nâu nâu nâu nâu/ chị bay đi đâu đi đâu”

+ Heo hút cồn mây súng ngửi trời

  1.  Phân biệt 8 biện pháp tu từ qua biện pháp Ẩn dụ

– Khái niệm: Ẩn dụ là phương thức biểu đạt gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó

– Tác dụng: Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

– Dấu hiệu nhận biết: Các sự vật dùng để ẩn dụ có nét tương đồng với nhau

Ví dụ: “Người cha mái tóc bạc/ đốt lửa cho anh nằm/ rồi Bác đi dém chăn/ từng người từng người một”

⇒ Người cha, Bác chính là: Hồ Chí Minh

  1. Phân biệt 8 biện pháp tu từ qua biện pháp Hoán dụ

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi

– Tác dụng: Làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

– Dấu hiệu nhận biết: Đọc kĩ khái niệm

Ví dụ: “Áo nâu cùng với áo xanh/ Nông thôn cùng với thành thị đứng lên”

⇒ Áo nâu đại diện cho người nông dân của vùng nông thôn, áo xanh đại diện cho giai cấp công nhân của thành thị

  1. Phân biệt 8 biện pháp tu từ qua biện pháp Nói quá

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ phóng đại quy mô, mức độ, tính chất của sự vật, hiện tượng

– Tác dụng: Giúp hiện tượng, sự vật miêu tả được nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm

– Dấu hiệu nhận biết: Những từ ngữ cường điệu, khoa trương, phóng đại so với thực tế

Ví dụ:  “Lỗ mũi mười tám gánh lông/ chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho”.

  1. Phân biệt 8 biện pháp tu từ qua biện pháp Nói giảm nói tránh

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển

– Tác dụng: Tránh gây cảm giác đau thương, ghê sợ nặng nề, tránh thô tục, thiếu lịch sự

– Dấu hiệu nhận biết: Các từ ngữ diễn đạt tế nhị, tránh nghĩa thông thường của nó:

Ví dụ: “Bác đã đi rồi sao Bác ơi/ Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời”

⇒ Ở 2 câu thơ này từ “đi” đã được sử dụng thay cho từ “chết” để tránh cảm giác đau thương mất mát cho người dân Việt Nam.

  1. Phân biệt 8 biện pháp tu từ qua các Điệp từ, điệp ngữ

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ

– Tác dụng: Làm tăng cường hiệu quả diễn đạt như nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc, vần điệu cho câu thơ, câu văn.

– Dấu hiệu nhận biết: Các từ ngữ được lặp lại nhiều lần trong đoạn văn, thơ

– Lưu ý: Phân biệt với lỗi lặp từ

Ví dụ: “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

⇒ Từ “giữ” được nhắc lại 4 lần nhằm nhấn mạnh vai trò của tre trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

  1. Phân biệt 8 biện pháp tu từ qua biện pháp Chơi chữ

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ sử dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ

– Tác dụng: Tạo sắc thái dí dỏm, hài hước, làm câu văn hấp dẫn và thú vị

Ví dụ: “Mênh mông muôn mẫu màu mưa/ mỏi mắt miên man mãi mịt mờ”

Lưu ý: Ẩn dụ và hoán dụ là 2 biện pháp tu từ học sinh hay nhầm lẫn nhất:

+ Ẩn dụ: So sánh ngầm 2 sự vật, hiện tượng có tính chất tương đồng nhau với hiệu quả tạo ra nghĩa bóng so với nghĩa gốc của nó

+ Hoán dụ: Lấy một sự vật, hiện tượng ngầm để chỉ cái lớn lao hơn

Trên đây là những chia sẻ của gia sư văn Hà Nội về 8 biện pháp tu từ thông dụng trong chương trình học của các em. Chúng tôi tin rằng bài viết này sẽ thực sự mang lại những kiến thức quý báu, giúp các em nhận biết, phân biệt và áp dụng tốt các biện pháp tu từ trong bài tập làm văn. Chúc các em đạt được thành tích cao trong học tập!

 

Các công thức tính diện tích các hình cơ bản

Công thức tính diện tích như thế nào mới đúng chuẩn là một trong những câu hỏi được rất nhiều người quan tâm. Tính diện tính là một công thức vô cùng quan trọng và cốt lõi để chúng ta có thể áp dụng và giải các bài tập một cách thuận tiện nhất. Nếu như bạn nào chưa biết thì hãy theo dõi bài viết dưới đây nhé.

Tổng hợp các công thức tính các hình cơ bản

Diện tích hình tam giác

Tính chất: Hình tam giác là hình có 3 cạnh, 3 góc, 3 đỉnh

Chiều cao là đoạn thẳng hạ từ đỉnh vuông góc với cạnh đối diện. Ký hiệu đáy là a chiều cao là h.

Công thức:

Nếu như muốn tính diện tình hình tam giác chúng ta cần phải lấy độ dài đáy nhân với chiều cao rồi chia cho 2: S= a.h/2

Tính cạnh đáy: Lấy diện tích nhân với 2 rồi chia cho chiều cao.

Tính chiều cao: Lấy diện tích nhân 2 rồi chia cho cạnh đáy.

H = S.2/a

Công tính diện tích hình tròn

-Tính chất: Hình tròn có các bán kính bằng nhau

Đường bao quanh hình tròn gọi là đường tòn

Điểm chính giữa của tâm đường tròn thì gọi là tâm

Đoan thẳng nối từ tâm với một điểm trên đường tròng thì gọi là bán kính. Ký hiệu là r.

Đoạn thẳng đi qua tâm nối hai điểm của đường tròn với nhau thì gọi là đường kính được ký hiệu là d.

Công thức tính diện tích hình tròn

Muốn tính diện tích hình tròn thì chúng ta lấy bánh kính nhân với 3, 14

S= r.r.r.3,14

Biết diện tích và muốn tìm bán kính chúng ta làm như sau. Lấy diện tích chia cho 3,14 để tìm tích của hai bán kính rồi tìm xem số nào nhân với chính nó bằng tích đó thì lấy bán kính hình tròn.

Ví dụ minh họa: Cho diện tích một hình tròn bằng 28,26 cm2 . Tìm bán kính hình tròn đó.

Giải:

Tích của hai bán kính hình tròn là:

28,26 : 3,14 = 9 cm2

Vì 9 = 3.3 nên bán kính hình tròn là 3 cm

Công thức tính diện tích hình thoi

Tính chất: Hình thoi là hình có hai cặp cạnh đối diện song song với bốn cạnh bằng nhau.

Hình thoi có hai đường chèo vuông góc với nhau và cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường. Ký hiệu của hai đường chéo ấy là m và n

Để tính diến tích của hình thoi thì chúng ta lấy tích độ dài của hai đường chéo chia cho 2 (cùng đơn vị đo):

Công thức: S= M.x.n/2

Hình thang

Tính chất: Hình thang có một cặp cạnh đối diện song song với nhau.

Chiều cao là đoạn thẳng ở giữa hai đáy vuông góc với hai đáy

Ký hiệu của đáy lớn là a, đáy nhỏ là b và chiều cao là h

Diện tích của hình thang ta lấy tổng độ dài 2 đáy nhân với đơn vị đo rồi chia cho 2.

S= (a+b)/2.h

Công thức tính tổng hai đáy

Ta lấy diện tích nhân 2 rồi chia cho chiều cao.

(A+b) = s.2:h

Trung bình cộng của hai đáy bằng: a+b/2

Độ dài đáy lớn: Ta lấy diện tích nhân với hai, chia cho chiều cao rồi trừ đi độ dài đáy bé.

A = S.2:h-b

Độ dài đáy bé: Lấy diện tích nhân với 2, chia cho chiểu cao rồi trừ đi độ dài của đáy lớn.

B= s.2:h-b

Tình chiều cao: Lấy diện tích nhân với 2 rồi chia cho tổng độ dài hai đáy

H = s.2:(a+b)

Diện tích hình vuông

Hình vuông là hình tứ giác có 4 cạnh bằng nhau

Diện tính hình vuông sẽ bằng số đo của 1 cạnh nhân với chính nó.

S=a.a

Ví dụ minh họa: Cho diện tính hình vuông là 25cm2. Tìm cạnh của hình vuông đó

Ta có 25= 5.5, vậy cạnh hình vuông là 5 cm

Hình chữ nhật

Tính chất: hình chữ nhật là tứ giác có 4 góc vuông, hai chiều dài bằng nhau. Ký hiệu chiều dài là a, chiều rộng là b

Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta lấy số đo chiều dài nhân với số đo chiều rộng (cùng đơn vị đo)

S = a.b

Để tính được diện tích của các hình cơ bản trên thì chúng ta cần phải nắm rõ công thức tính diện tích của các hình đó. Hi vọng những công thức trên sẽ giúp các bạn học tốt hơn. Chúc các bạn thành công.