Các bước làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7

Sau khi học xong lớp 6 là lúc các em học sinh bước đầu trải qua chương trình học tương đối “nặng” của hệ THCS. Sang lớp 7, đối với môn văn các em dần làm quen với các bước làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7.

Để chuẩn bị tốt kiến thức cho môn văn với thể loại lập luận chứng minh, các em nên lưu ý các gợi ý sau:

a) Các bước làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7: bước tìm hiểu đề và tìm ý

– Trước hết các em phải xác địn đề bài yêu cầu điều gì?

Bước này giúp các em dễ dàng xác định yêu cầu chung của đề.

– Tìm hiểu đề để biết đề bài yêu cầu chứng minh điều gì?

Thao tác này nhằm xác định cụ thể vấn đề cần chứng minh. Vấn đề cần chứng minh có thể được đưa ra dưới dạng luận điểm cho sẵn hoặc dưới dạng một câu văn, câu thơ hay hình ảnh… Đối với những đề mà vấn đề cần chứng minh được đưa ra một cách gián tiếp, ta phải xác định được một cách cụ thể, chính xác vấn đề qua hình ảnh, cách biểu đạt, chẳng hạn: Em hãy viết một bài văn chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ Có công mài sắt, có ngày nên kim. Với đề kiểu này, một mặt phải cắt nghĩa được nghĩa đen của hình ảnh mài sắt à nên kim. Đồng thời phải hiểu được nghĩa bóng, ngụ ý của hình ảnh ẩn dụ. Với câu nói trên người xưa muốn nhắn nhủ đến thế hệ sau phải biết kiên trì, nhẫn nại, bền chí thì sẽ đạt được thành quả như mong muốn.

– Luận điểm của bài văn sẽ là gì?

Thao tác này nhằm xác định luận điểm cụ thể cho bài văn (luận điểm có thể dùng được để đặt nhan đề cho bài văn).

– Lập luận chứng minh theo cách nào?

luận điểm cụ Tuỳ theo từng thể mà lựa chọn cách lập luận theo các hướng:

+ Dùng lí lẽ và phân tích lí lẽ;

+ Dùng lí lẽ và dẫn chứng;

+ Kết hợp cả hai.

b) Các bước làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7 không thể bỏ qua phần lập dàn bài

Đối với bài văn lập luận chứng minh lập dàn bài cũng theo bố cục ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài. Xác định nội dung của từng phần, mối quan hệ giữa các phần, trình tự triển khai các luận cứ trong từng phần, cách đưa dẫn chứng cho mỗi luận điểm, lí lẽ,…

– Mở bài:

Xác định rõ ý nghĩa vấn đề cần chứng minh, khái quát ý kiến của mình về vấn đề đó.

– Thân bài:

+ Triển khai luận điểm chính bằng các luận điểm nhỏ nào?

+ Dùng những lí lẽ nào để chứng minh?

+ Lựa chọn các dẫn chứng để thuyết phục cho lí lẽ.

+ Cân nhắc việc sắp xếp các luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) sao cho có sức thuyết phục nhất.

– Kết bài:

Khẳng định tính đúng đắn của điều đã chứng minh. Mở rộng ý nghĩa của vấn đề.

c)Các bước làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7: Phần viết bài bạn nên viết như thế nào?

Dựa vào dàn ý đã được xây dựng ở trên ta lần lượt viết từ Mở bài, từng đoạn của Thân bài và Kết bài.

– Trong các bước làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7, phần Mở bài bạn có các cách sau:

+ Đi thẳng vào vấn đề cần chứng minh

Ví dụ cho một đề văn Người xưa có câu: “Có chí thì nên”. Em hãy viết một bài văn chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó.

Với một đề văn như vậy ta có thể viết phần Mở bài như sau:

Có ý chí, nghị lực thì sẽ thực hiện được hoài bão của mình, mới có thể trở thành người thành đạt. Đúng như nhân dân ta đã đúc kết: “Có chí thì nên”.

+ Đi từ cái chung, dẫn dắt đến cái cần chứng minh

Cũng với đề văn trên, theo cách này có thể viết:

Cuộc sống bao giờ cũng đầy những khó khăn, thách thức. Người ta sống tức là biết khắc phục khó khăn, vượt qua những thách thức để vươn tới thành công. Thiếu đi ý chí, nghị lực sẽ không bao giờ đến được bến bờ của thành công, đúng như dân gian vẫn thường nói: Có chí thì nên.

+ Có thể đưa ra một bài dẫn chứng thực tiễn để dẫn vào vấn đề cần chứng minh

Với đề văn trên, theo cách này có thể viết:

Ai mà chẳng muốn thành đạt. Song không phải ai cũng có được ý chí, nghị lực để có thể thành đạt. Nhân dân ta đã dạy rất đúng về điều này: Có chí thì nên.

– Cách viết Thân bài:

+ Chú ý viết tuần tự từng đoạn, lựa chọn các từ ngữ, câu kết nối, chuyển tiếp giữa các phần, các đoạn. Đối với văn lập luận chứng minh, ta thường gặp các từ ngữ chuyển tiếp như: Thật vậy,…; Quả đúng như vậy,…; Có thể thấy rõ…; Điều đó được chứng tỏ…; …

+ Khi viết phần phân tích lí lẽ bạn cần chú ý tính lôgic, chặt chẽ của các chi tiết với nhau;

+ Khi đưa ra dẫn chứng cần tập trung phân tích những biểu hiện tiêu biểu, gắn với luận điểm, lí lẽ của mình, không nên kể lể dài dòng.

– Kết bài:

+ Người ta thường sử dụng những từ ngữ để chuyển ý khi kết bài như: Tóm lại,…; Như vậy,…; Đến đây, có thể khẳng định…

+ Đặc biệt trong cách làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7, cần đặc biệt lưu ý sự liên kết giữa Mở bài và Kết bài: Mở bài theo cách nào thì Kết bài cũng phải theo cách ấy.

d) Trong các bước làm bài văn lập luận chứng minh lớp 7 cần đặc biệt lưu ý việc đọc lại và sửa chữa lỗi

– Kiểm tra lại cách diễn đạt, cách dùng các từ ngữ lập luận, các từ ngữ chuyển tiếp,…

– Soát các lỗi về chính tả, dùng từ, viết câu,…

Bài văn mẫu biểu cảm về cây bàng

Đề bài: em hãy viết bài văn biểu cảm về cây bàng

Bài làm

Trong tất cả các loài cây trên đất nước ta cây nào cũng có vẻ đẹo và ý nghĩa riêng của nỏ. Nhưng đối với tôi thì cây bàng là một một người bạn vô cùng thân thiết gắn liền với tuổi học trò. Tôi yêu cầy bàng vì sự gắn bó của nó, với những kỷ niệm vô cùng thân thương.
Từ khi sinh ra biết chơi, nô đùa cùng lũ bạn gần nhà tôi đã thấy cây bàng sừng sững đầu ngõ, gần khu chợ nhỏ từ bao giờ. Nhìn từ xa cây bàng như một chiếc ô khổng lồ. Thân cây to, nổi lên những cụ u sần sùi mà lũ chúng tôi thường dẫm nên nó để trèo lên cây hái quả bàng.

Các bạn cùng lúa thích màu hè để ngắm hoa phượng còn tôi lại thích sự thay đổi kỳ diệu của những mầm chồi non của bàng chuyển dần thành lá. Đối với tôi đó là sự thay đổi kỳ diệu.

Mùa hè cây bàng xanh mát, tỏa ra bóng mát cho chúng tôi ngồi chơi. lá bàng xanh mơn mởn tràn đầy sức sống. Lũ trẻ thường ngồi dưới tán cây bàng chơi ô ăn quan chơi nấu ăn, những kỷ niệm ấy sẽ không bao giờ quên được. Chúng tôi thường lấy những chiếc lá bàng để chơi trò chọi trâu.

Gốc bàng xù xì, rễ bàng tỏa ra nhiều phía nên bao nhiêu sinh ực cay đều dành hết cho lá, cho cành cho những chùm hoa bàng li ti trong tán lá. Bàng hứng nắng để gốc mát quanh quanh năm. Trong tán lá bàng xanh những chú chim sẻ chim sâu bé nhỏ tranh nhau tìm sâu. Đứng dưới gốc bàng nghe tiếng kêu chích chích của chúng nghe thật vui tai.

Tạm biệt mùa hè nóng bức bàng đón mùa thu với làn gió heo may,ánh nắng thu hanh hao chuyển màu xanh của bàng sang màu vàng. Rồi những cơn gió heo may càng ngày càng lạnh hơn, những cơn mua cũng không còn nữa thì cũng là lúc những quả bằng bắt đầu chín mọng, quanh gốc bàng lác đác những quả bàng chín vàng. Lũ trẻ con chúng tôi chỉ ao ước có thật nhiều quả bàng chín để ăn, đối với chúng tôi bàng chín là một món ăn vô cùng tuyệt vời, vị ngòn ngọt, thơm dịu, hơi chua chua đánh thức cả kỷ niệm tuổi thơ. Nếu ai đã từng cầm một quả bàng chín trên tay thì sẽ cảm nhận được vị ngọt thanh của nó, Đập vỡ hạt bàng ra các bạn sẽ thấy được nhân trái bàng trắng đục ăn vô cùng thơm ngon béo ngậy. Phải chăng rễ bàng đã chắt chiu những mùa mỡ ấy từ lòng đất để chúng tôi có được những trái nhân ngon ấy.

Lá bàng từ màu vàng nhạt chuyển dần sang đỏ thẫm. Đó là bàng gửi những tấm thiệp hồng đầu đông tuyệt vời cho con người. Từng cơn gió bấc thổi mạnh lá bàng lìa khỏi cành bay vào không gian như tiếc nuối một điều gì đó rồi nhẹ nhàng nhẹ nhàng đáp xuống cỏ. Đông đến thật rồi! bàng trút lá cành cây trơ trọi khẳng khiu chống lại với gió đông, tôi thấy thương cho cây bàng và thầm hỏi “bàng ơi lạnh lắm không? Lá bàng khô rơi xào xạc trên lối mòn như lời thì thầm reo vui trong gió. Thu qua đông tới, và rồi xuân lại sang chúng tôi nô đùa vui vẻ dưới gốc cây bàng đổi sức áo và mong đợi một mùa hè với bao kỷ niệm tuyệt vời.

Giã từ những ngày đông giá rét xuân về, cây bàng khoác lên mình những đốm lửa mùa xanh. Rồi những đốm lửa màu xanh ấy cứ lớn dần… Bàng cựa mình rung rinh hé mắt nhìn bầu trời xanh thẳm. Và chỉ mấy ngày quên đi cây bàng bỗng nhiên thay đổi khoác lên mình chiếc áo xanh tươi non mơn mởn. Lũ chúng tôi lại nô đùa vui vẻ dưới gốc bàng, ngước lên nhìn cây bàng đổi thay sắc áo và mong đợi một mùa hè với bao kỷ niệm.
Cây bàng vô cùng thân thuộc, tuổi thơ gắn liền với lứa tuổi học trò. Thời gian dần trôi cây bàng vẫn đứng ở đầu xóm nhỏ che nắng che mưa cho lũ chúng tôi trưởng thành. Có ai lớn lên đi xa còn nhớ về cây bàng? Còn tôi hình ảnh cây bàng vẫn đọng mãi trong tâm trí vẫn nguyên vẹn như ngày nào.

Bài văn biểu cảm về cây bàng hi vọng sẽ giúp các bạn học tốt hơn.

Bài văn biểu cảm về loài cây em yêu thích nhất

Đề bài: Em hãy viết bài văn biểu cảm về loài cây em yêu thích nhất

Bài văn mẫu biểu cảm về loài cây em yêu thích nhất

Những ngày thơ bé dưới mái trường tiểu học là quãng thời gian hạnh phúc nhất của một đời người. Mỗi khi nhớ về thời thơ ấu, quá khứ gợi lên trong tôi nỗi nhớ bạn bè, thầy cô, mái trường tha thiết bên loài cây mà tôi vô cùng yêu quý, trân trọng. Loài cây ấy đã quá quen thuộc với tuổi thơ mỗi người. Một nhà văn đã gọi nó với cái tên thân thuộc hoa học trò.
Ngày đầu tiên tới trường tôi đã ngất ngây trước cái màu lá xanh nọn mượt mà ấy. Tôi đã ngạc nhiên và vô cùng thích thú với ý nghĩ mình được đúng trước một cây me khổng lồ. Cái suy nghĩ ngây thơ ấy tôi còn giữ mãi trong lòng kể cả khi thời gian trôi đi, tôi phải xa mái trường thân yêu.

Ngày chia tay những cơn gió mang từng chiếc lá vuốt vương vấn trên mái tóc tôi. Tôi đã khóc buồn bã vô cùng vì phải xa bạn bè, thầy cô và phải rời xa mái trường tuổi thơ. Để rồi khi trở về đây, tôi lại không khỏi xúc động nhớ những giờ xa chơi cùng chúng bạn chơi đùa dưới gốc phượng. Nhớ những cơn mưa lá rụng trên mái đầu nhỏ bé của học sinh, tinh nghịch vài hạt mưa mềm mại. Nhớ những ngày khai trường rộn rã, phượng cười vui dưới ánh nắng mềm mại. Nhớ những ngày khai trường rộn rã phượng cười vui dưới ánh nắng trong trẻo của bầu trời bao la.. Phượng gợi về bao hồi ức đẹp đẽ trong tôi.

Mùa thu lá phượng rụng. Từng đợt, từng đợt, những nhành lá rời bỏ cành rây rơi vàng sân trường. Vậy là phượng vẫn vui vể chơi đùa với gió mát và nắng ấm chan hòa, học sinh trở lại trường rồi còn gì để không tươi cười rực rỡ nữa đây. Sân trường rộn rã tiếng trò chuyện. Chúng tôi nhặt lá rụng chơi nấu bếp hay để đồ lên đầu nhau thành chiếc vòng như vương miện.. Một vài đứa tung lá trên trả cho cây nhưng chúng chẳng trở lại càng mà vẫn rơi xuống đất đôi mắt chúng nó ngây thơ ngước lên nhìn phượng mỉm cười.

Đông đến, gió lạnh làm học sinh phải trốn trong một lớp áo dày, rộng chẳng khác chi những chú gấu bông đáng yêu. Sân trường lạnh lẽo nhưng vẫn ấm áp bởi những bước chân của học sinh. Phượng lặng lẽ ngước nhìn bầu trời xám xịt mong sao đông qua nhanh… Những ngày lạnh lẽo cuối cùng trôi đi năng vàng trở lại sưởi ấm sắc trời.

Xuân sang, sân trường rộn lên một niềm vui. Học sinh trở lạu sau dịp nghỉ tết càng làm không khí thêm rộn rã. Chúng tôi trò chuyện say sưa về những ngày đi chơi, phượng chăm chú lắng nghe. Phượng lại mỉm cưởi hiền dịu thân thương.

Hè về mùa thi cũng đến, Phượng mừng khi thấy những đứa trẻ của nó học hành chăm chỉ nhưng cũng không dấu được nỗi buồn chia tay. Lúc ấy học sinh mới để ý tới màu hoa học trò đỏ tươi trên nhành lá. Đứa nào đứa nất say sưa ngắm nhìn không biết chán. Mỗi lần nhìn là mỗi lần chúng tôi ghi nhớ, Mỗi lần nhìn là mỗi lần chúng tôi lo sợ.. kỳ nghỉ sắp tới rồi lòng học sinh cũng giống như cây phượng bâng khuâng, xao xuyến. Những ngày cuối cùng chúng tôi còn đi học là lúc cây phượng rực rỡ tươi tắn nhất. Dường như cây hoa học trò muốn trước khi chúng tôi rời xa cánh cổng trường tiểu học với những kỷ niệm đẹp. Ba ngày… hai ngày… một ngày. Buổi cuối cùng rồi chúng tôi bước đi lặng lẽ mưa rơi trên mái tóc cũng không làm ai để ý. Cánh cổng trường đóng lại phượng nồng mà nhìn theo bóng dáng những đứa học trờ thân yêu.

Cây phượng mùa nào cũng đẹp nhưng nó chưa bao giờ đẹp như thế này, khi bàn tay tôi chạm vào thân cây xù xì của nó. Những vết sờn đối với tôi ẩn chứa vô vàn kỷ niệm. Chúng nhắc nhở tôi nhớ lại những hình ảnh thân thương nhất mà suốt đời tôi trân trọng bạn bè, thầy, cô mái trường tươi thắm… Ôi phượng và tuổi mới ngọt ngào làm sao.

Trên đây là bài văn miêu tả loài cây em nhất nhất, cây phượng. Các em hãy cùng theo dõi nhé.

Bài văn mẫu: Biểu cảm về cây tre Việt Nam

Đề bài: Em hãy viết bài văn biểu cảm về cây tre Việt Nam

Bài văn mẫu: Biểu cảm về cây tre

Tre, tre có tự bao giờ, chẳng biết tự bao giờ tre xuất hiện bên cạnh làng quên chúng ta. Tre là biểu tượng cho bức tranh thanh bình của làng quê Việt Nam, mai đình, con đò, lũy tre.. những hình ảnh sống mãi trong lòng lữ khách tha hương.

“ Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi”…

Cái hình ảnh cầu tre lắc lẻo cứ rụng động nhẹ nhàng liên tiếp trong lòng tôi như lời ru ầu ơ của mẹ. Cây tre là người bạn thân thiết, lâu đời nhất của người nông dân và nhân dân Việt Nam, từ thuở lọt lòng đã nằm trong chiếc nôi tre đong đưa những giấc mơ yên bình.  Cây tre còn là biểu tượng cao quý về con người Việt Nam, về đất nước Việt Nam.

Tre xanh xanh tự bao giờ. Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh. Chẳng biết tre có tự bao giờ, nhưng từ thời Hùng Vương đã xuất hiện tre chống giặc cứu nước. Tre tượng trưng cho người quân tử, bởi thân hình gầy guộc lá mong manh, thân hình khẳng khiu vút lên bầu trời cao. Lá thì mong manh áo cọc bao ngoài thì để che chở cho những mầm măng bé nhỏ, như người mẹ âu yếm cho con. Dù gầy guộc là vậy nhưng tre biết kết sức mạnh để tạo nên lũy nên thành, sức mạnh đó không gì có thể phá nổi. Những cây non nhọn hoắt, đâm thẳng tự tin, như đại diện cho những mầm non. Tre kiên cường bền bỉ vươn lên mọi môi trường sống, dù có bùn lầy, khô hạn, ở môi trường nào tre cũng có thể vươn cao nhưng vẫn toát lên dáng vẻ thanh cao tự tin như con người. Sự hóa thân ấy đã xóa bỏ ranh giới giữa người với sự vật.

Tre gắn bó với con người từ khi bé đến khi trưởng thành. Từ nhỏ chúng ta vẫn thường chơi diều tre, ống thụt… Chúng lao động dưới bóng tre, tre là minh chứng cho những cuộc tình của đôi lứa “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng. Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?”. Đến khi lấy vợ gả chồng thì cùng dựng mái nhà tranh có cột tre, giường tre, tre dõi theo cả một đời con người. Dưới bóng tre là mái đình làng cổ kính , đại diện cho một nền văn hóa nông nghiệp, là những những nhọc nhằn, giã dần sàng… Tre còn được dùng để chẻ lạt gói bánh chưng mỗi độ tết đến xuân về, khít chăn nhưu những mỗi tình quê buổi ban đầu. Tre của tuổi thơ, tuổi già.. ràng buộc con người như tơ duyên.

Tre đi vào đời sống tâm linh như văn hóa của người Việt. Từ những câu hát câu thơ xâu chuỗi vào tâm hỗn dân tộc. Tre với người là người bạn thâm giao “Cánh đồng ta năm đôi ba vụ. Tre với người vất vả quanh năm. Ha tre gắn với khúc giao duyên  “ lạt này gói bánh chúng xanh , cho mai lấy trúc cho anh lấy nàng”.

Khúc nhạc của tre là khúc nhạc đồng quê, những trưa hè lộng gió tre rì rào, kẽo kẹt ru tuổi thơ giấc ngủ trưa hè. Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước xe dựng nước giữ nước, tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre tình nguyên dâng hiến mình cho quê hương đất nước để bảo vệ người dân khỏi kẻ thù xân lược.

Dù sau này có đi đâu về đâu, đất nước ta có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì tre vẫn mãi là hồn của quê hương Việt Nam. Tre là biểu tượng tinh thần, là bóng cây râm mát che chở những tâm hồn của tất cả chúng ta sau những chặng đường đời mỏi mệt. Chẳng có gì quá với câu nói Tre Việt Nam anh hùng bất khuất cả.

Giải thích câu tục ngữ: Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Bài văn giải thích câu tục ngữ: Một cây làm chẳng nên non,Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Đề bài: Nhân dân ta có câu:

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Dựa vào lịch sử dấu tranh bảo vệ đật nước và lao động xây đựng đất nước của nhân dân ta để chứng minh sự đúng đắn của câu ca dao tục ngữ trên.

Bài làm

Tục ngữ ca dao là kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý báu nói về tình cảm về kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước Một trong những kinh nghiệm được ca dao ghi lại nói về sự đoàn kết :

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Đọc câu ca dao trên, ta thấy ý nghĩa của nó thật là sâu sắc. Một cây sẽ yếu ớt mỏng mạnh trước cuồng phong bão táp. Nhiều cây chen chúc, sát cánh bên nhau  sẽ tạo ra khóm cây , rừng cây vững chai, gió lay chẳng đổ, bão rung chẳng rời. Từ hình ảnh thiên thiên, ta liên tưởng đến cuộc sống của con người. Đó chính là sự tập hớp ý chí, sức lực hành động, của nhiều người tạo thành sức mạnh tổng hợp, làm nên những thành công lớn mà cá nhân hoặc tập thể nhỏ không thể nào làm được.

Lịch sử giữ nước và dựng nước của đân tộc ta từ ngàn xưa dến này là nguồn gốc của bài học ấy và cũng là sự chứng minh hùng hồn cho bài học ấy.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống pháp Bác Hồ đã kêu gọi toàn toàn dân toàn quân đoàn kết một lòng, nhất tề đứng lên giết giặc cứu nước. Khối đoàn kết toàn dân góp phần làm nên thằng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chín năm thần thánh.

Nếu cuộc kháng chiến chống Pháp khẳng định tinh thần đoàn kết của nhân ta thì cuộc kháng chiến chống Mĩ là một bản anh hùng ca đáng tự hào về về khối đoàn kết dân tộc. Đương đầu với nửa triệu giặc Mỹ xâm lược có pháo đài bay, có hàng rào điện tử, nhân dân hai miền Nam Bắc đã xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và trong mặt trận Tổ Quốc Việt Nam làm nên thắng lợi vẻ vang, kế thúc hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ bằng chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 vang dội  lịch sử, chấn động địa cầu.

Không những tinh thần đoàn kết đem lại những thắng lợi to lớn trong lao động sản xuất. Ngắm nhìn những con đê hùng vĩ hai bên bờ sông Hồng ta thật ngạc nhiên trước sức mạnh của người xưa. Cứ đến mùa mưa, nước sông Hồng đỏ ngầu gầm réo,  hung hăng muốn muốn tràn vào làng mạc phố xá nhưng làm sao vượt qua được con đê hùng dũng hai bên bờ sông Hồng. Ai đã đắp nên những con đê ấy? Không riêng ai cả. Hàng chục triệu trăm triệu con người đã dùng bàn tay bé nhỏ để với công cụ lao động thô sơ đắp từ thuở xưa và tiếp tục đắp suốt ba, bốn ngàn năm nay. Đó chính là một công trình tuyệt vời của sức mạnh đoàn kết.

Ngày nay, dó không chỉ bieetr đoàn kết nhân dân trong nước mà còn hợp tác quốc tế nhân dân ta đã xây dựng được ngành công nghiệp dầu khí Vũng Tàu các nông trường cà phê cao su… nhân dân ta đã và đang hoàn thành những công trình xây dựng to lớn: nhà máy thủy điện sông Đà, đường dây tải điện 500KW Bắc Nam mang ánh sáng đến cho mọi miền quê hẻo lánh. Rồi cầu Thăng Long sừng sững, thủy điện trị an đồ sộ, và còn biết bao nhiêu công trình to lớn khác đã đang và sẽ mọc lên như muốn nói với  các bạn năm châu rằng: đất nước chúng tôi tuy nhỏ bé nhưng đoàn kết với nhau bà tranh thủ sự đoàn kết quốc tế để xây dựng được một nước Việt Nam giàu đẹp, phồn vinh sánh kịp với các nước tiên tiến trên thế giới.

Tóm lại trải qua hàng mấy chục thế kỷ, câu ca dao của cha ông ta vẫn là một chân lý không gì lay chuyển được, Đó là một trong những bài học sâu sắc nhất mà nhân dân Việt Nam dã rút ra qua cuộc sống hàng ngàn năm của mình.