Chứng minh nhận định bài Đại cáo bình Ngô là “Thiên cổ hùng văn”

Chứng minh nhận định bài Đại cáo bình Ngô là “Thiên cổ hùng văn”

 

 

*Giải thích “Thiên cổ hùng văn”; áng văn hùng tráng cả nghìn đời còn lưu truyền.

Vì:

– Nội dung thể hiện một tinh thần yêu nước mãnh liệt, tinh thần chiến đấu hết sức mạnh mẽ quyết liệt, khí thế hào hùng, lòng căm thù giặc sôi sục.

– Ghi lại một thời kì đau thương mà oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Minh với những chiến lược chiến thuật hết sức đúng đắn và sáng tạo đã đem lại những trận đánh long trời lở đất làm cho quân thù phải khiếp sợ, đẩy chúng đến sự thất bại toàn diện và nhục nhã.

– Với nghệ thuật xuất sắc: lời văn biền ngẫu hùng tráng, hơi văn cuồn cuộn như bão giông, sóng lớn, từ ngữ sắc bén như những nhát dao chém vào quân xâm lược, phép đối kết hợp với cấu trúc câu của loại phú cận thể tạo nên tiết tấu mạnh mẽ thể hiện cảm xúc hào sảng bừng bừng trong huyết quản của tác giả ngay trong những ngày nghĩa quân Lam Sơn thắng trận giòn giã.

-> Bài cáo mãi là âm vang hào hùng trên non sông đất Việt và ghi lại được ý chí, khát vọng chiến thắng, hoà bình, độc lập của toàn dân vì:

– Vì đã khẳng định được quyền tự chủ và ý chí chiến đấu đến cùng để giành quyền tự chủ của dân tộc trước một tên xâm lược sừng sỏ nhất châu Á

– Bài cáo còn nêu cao tư tưởng nhân nghĩa để khẳng định đạo lí ngàn đời của nhân dân Việt Nam.

– Sự bất hủ của bài cáo còn là do thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Trãi

– Sự tồn tại vượt thời gian của bài cáo còn có sự góp phần của dịch giả -> bài dich chữ Nôm quả là một công trình dịch thuật xuất sắc.

*Chứng minh:

– Bình Ngô đại cáo là bản thiên cổ hùng văn xuất sắc về nội dung và nghệ thuật:

+ Ca ngợi đất nước và dân tộc với lối văn trong sáng tràn đầy sức mạnh của lòng tự tin và tự hào : “Như nước Đại Việt…..còn ghi”

+ Một bản cáo trạng đanh thép về tội ác của quân xâm lược “Nướng…..chịu được” -> thể hiện lòng căm thù sôi sục của tác giả:

-> Nỗi niềm trăn trở âu lo cho vận mệnh của đất nước thể hiện tình yêu nước thương dân sâu sắc “ Ngẫm thù lớn…..đồ hồi”

-> Cảm xúc dạt dào khi có cơ hội khởi nghĩa, khi tập hợp được lực lượng nhân dân, khi lực lượng nghĩa quân đã phát triển: “nhân dân bốn cõi…phới”

-> Chiến lược, chiến thuật tài tình và chiến thắng vang dội là trọng tâm làm nên cảm xúc vừa mãnh liệt vừa trữ tình cho áng văn chương bất hủ: “Thế trận xuất kì lấy yếu chống mạnh…” , “Đem đại nghĩa…tàn”

+ Các câu tường thuật chiến thắng là những lời hào hùng nhất như có sức mạnh xô núi, lấp biển “ Trận Bồ Đằng….ngàn năm”, “Ngày mươi tám…”, “ Gươm mài đá….”

+ Kết thúc bài cáo là những lời ca trang trọng và tươi vui nhất, là niềm hạnh phúc dạt dào.

=> Tư tưởng nhân nghĩa là nguồn gốc của giá trị văn chương, là cái bệ phóng để đưa tác phẩm từ quá khứ vào tương lai và trường tồn mãi mãi.

Trên đây là bài văn chứng minh nhận định bài Đại cáo bình Ngô là “Thiên cổ hùng văn”. Các bạn tham khảo nhé!

 

 

 

 

Viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến

Viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến

Đề bài: Em hãy viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến

Suốt năm năm nay, người dân ở quanh Trường tiểu học Ya Chim 1 (xã Ya Chim, thị xã Kon Tum) rất cảm động trước tình bạn của hai cậu học sinh. Thấy bạn mình có đôi chân què quặt, cậu bé A Bưm đã tình nguyện cõng bạn đến trường hàng ngày. Dù mưa gió hay mùa khô nắng gắt, người ta vản thấy A Trâm tươi cười trên lưng A Bưm đến trường. Nhà A Bưm nghèo khó, bố mẹ lam lũ rẫy nương, nhà của A Trâm cũng chẳng khá gì hơn. Không một ai bắt A Bưm phải làm thế, nhưng vì thương bạn, cậu bé đã làm điều đó một cách tự nguyện và vui vẻ.

“Em muốn mình là đôi chân của bạn”, A Bưm tâm sự.

“Yàng không phạt người tốt đâu!”.

A Bưm và A Trâm ở cùng làng Klâu Ngoh Zố. Vì thế, từ nhỏ hai cậu đã kết thân với nhau. Nhà A Bưm nghèo, anh em lại đông nên cậu bé phải vất vả từ nhỏ. Còn hoàn cảnh A Trâm cũng chẳng khá hơn. Khi vừa sinh ra, chẳng hiểu vì sao đôi chân của em cứ teo tóp rồi không thể đi được, chỉ lết quanh quẩn trong nhà. Thấy con bị tật nguyền, ba của em trốn biệt, chỉ còn lại hai mẹ con trong căn nhà sàn trống trơ. Hằng ngày, sau giờ xua bò lên rẫy, A Bưm lại đến chơi với A Trâm. Trò chơi của nhũng đứa trẻ vùng quê giữa Tây Nguyên bạt ngàn chỉ là mấy cái lá cây vàng rụng, vài cục đất sét lượm được quanh vùng. Vậy mà tình bạn giữa hai đứa cứ ngày càng thắm thiết.

Viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến

Viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến

Đến tuổi đi học, A Bưm vui mừng khi mẹ cho chiếc cặp mới để chuẩn bị đến trường, cậu mang đến nhà A Trâm để hai đứa cùng vui. Nhưng A Trâm không thể nào vui được, cậu lết ra sau căn nhà sàn rồi ngồi bệt giữa đất mà khóc. A Bưm lên tiếng: “Mầy không vui khi tao được đi học hả A Trám? Tại sao mày lại khóc?”. A Trâm sụt sùi trả lời: “Không phải tao không vui vì mầy được đi học, mà tao buồn vì tao không có đôi chân như mày để đi học. Tao buồn lắm A Bưm!”. Thương bạn, A Bưm suy nghĩ nhiều lắm. Rồi bỗng dưng mấy hôm sau A Bưm đến nhà A Trâm với nét mặt hớn hở: “Tao có đôi chân, hai đứa mình dùng chung. Cả hai cùng đi học nhé!”. Nghe bạn nói, cái bụng A Trâm mừng như được quà.

Chị Y Thanh, mẹ A Trâm, nhớ lại: “Thương con lắm nhưng nó tật nguyền, trường lớp lại xa,mình thì suốt ngày lên rẫy. Nhà chỉ có hai mẹ con, ai đưa nó đến trường! Mình nghĩ cái số nó bị Yàng phạt nên có học cũng chẳng làm được gì. Thôi thì mặc cho Yàng vậy”. Nhưng rồi một hôm thây A Bưm đứng chần chừ trước cửa như muốn nói điều gì đó, chị Y Thanh lên tiếng: “A Bưm, mày có chuyện gì muốn nói à?”. Sau một hồi ngập ngừng, A Bưm lên tiếng: “Dì cho thằng A Trâm đi học với con nhé? Con sẽ cõng nó tới trường!”.

Tuy ưng cái bụng nhưng chị Y Thanh vẫn lo lắng: “A Bưm à, cái số thằng A Trâm bị Yàng phạt rồi, mày giúp nó không sợ Yàng hả?”. Chẳng một phút đắn đo, A Bưm trả lời: “Không đâu, Yàng không phạt người tốt đâu! Con sẽ cõng A Trâm tới trường”.

Thấy A Bưm nhất quyết xin cho A Trâm tới trường, cuối cùng chị Y Thanh cũng đồng ý. Ngày khai trường, A Trâm rạng rỡ nụ cười trên lưng A Bưm, chị Y Thanh thấy vui vô cùng! Tuy khuyết tật nhưng A Trâm cũng lớn ngang ngửa với A Bưm. Để đến được trường, nhiều khi đôi bạn nhỏ phải ngồi bệt giữa đường nghỉ lấy hơi.

Thấy dáng A Bưm cõng bạn đi liêu xiêu trên con đường đất đỏ của làng, ai cũng thầm thán phục và lo lắng cho lòng tốt của A Bưm có ngày bị Yàng phạt. Nhưng A Bưm và A Trâm thì không, hai đứa vẫn cười đùa hồn nhiên trong suốt hành trình năm năm đi tìm con chữ.

Anh Tuấn, một người sửa xe đạp ở làng và cũng là nhân chứng của đôi bạn này trên con đường đầy bụi đỏ kể: “A Trâm ngày càng lớn nên nhiều lúc A Bưm cõng cũng thấm mệt. Những lúc như vậy A Trâm cởi quần dài, ngồi lết từng đoạn chờ bạn nghỉ mệt.

 

Bài mẫu: Viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến

Bài mẫu: Viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến

Ở quê, trẻ con có được ăn sáng trước khi đến trường đâu, khi tan học cũng đã thấm cơn đói. Vậy mà chưa bao giờ tôi thấy A Bưm bỏ bạn cả, mệt lắm thì nó lấy cái mo cau kéo bạn về. Có những hôm mưa lớn, thấy hai đứa lem luốc bùn đất, thương quá tôi lấy xe chở về. Tôi vẫn thường chỉ vào tụi nó mà dạy con tôi, nhưng nói thật để làm được như A Bưm thì hiếm lắm!”.

Năm nay, cả A Bưm và A Trâm đã bước vào lớp 6, trường lại xa nhà hơn 6 km. Hôm tôi đến chỉ còn gần một tuần nữa là vào năm học mới, A Trâm nói với giọng buồn buồn: “Trường xa quá, chắc con phải nghỉ học thôi. Đi xa vậy mà bắt bạn cõng thì tội lắm”. Nói rồi cậu bé thút thít khóc. Đúng lúc đó A Bưm từ rẫy chạy về: “A Trâm à, mày có nhà không? Đi chăn bò tao thấy có mấy trái này chín ngon quá, tao mang về cho mày này”. Rồi cả hai cùng chia nhau mớ trái cây trên rừng ăn ngon lành. A Trâm quên cả buồn.

Sau khi ăn xong trái cây, A Bưm nói với bạn: “Mày đừng buồn nữa A Trâm à, dù trường có xa tao cũng cõng mày đi học, vì mày là bạn tốt của tao mà”. Nói rồi A Bưm lôi chiếc xe đạp hư của chị Y Thanh vứt ở góc nhà ra ngắm nghía. A Bưm nói sẽ xin chị Y Thanh tiền để sửa lại chiếc xe đạp, sẽ tập đi xe đạp cho kịp ngày khai trường.

Nhìn chiếc xe gỉ sét tôi chợt chạnh lòng. Nhưng khi nhìn thẳng vào đôi mắt đen nhánh và to tròn của A Bưm, tôi biết cậu bé sẽ làm được. Vì cậu đã hứa: mãi là đôi chân của bạn.

Với bài tham khảo:”Viết một bài văn kể lại một câu chuyện xảy ra trong cuộc sống mà em trực tiếp chứng kiến” chúc các bạn học tốt!

Hãy tưởng tượng mình là Xi-mông, kể lại truyện Bố của Xi-mông.

Tưởng tượng mình là Xi-mông, kể lại truyện Bố của Xi-mông.

Đề bài: Hãy tưởng tượng mình là Xi-mông, kể lại truyện Bố của Xi-mông.

Tôi là đứa trẻ bất hạnh vì không có bố. Tuy lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ nhưng tôi vẫn thấy thiếu thốn tình cảm của một người bố. Điều mà tôi sợ nhất là ngày ngày đến trường,lũ trẻ nghịch ngớm cứ quây quanh tôi mà la toáng lên : “Ê,ê! Thằng con hoang không có bố!”.

Mặc dù mẹ dặn là tránh xa chúng nó ra nhưng đã vài lần,tôi không thể kìm được cơn giận dữ,lao vào đánh đấm chúng túi bụi. Đương nhiên là rồi bị chúng tẩn cho ra trò. Tôi về mách mẹ. Mẹ ôm tôi vào lòng vuốt ve,an ủi,nhưng rốt cuộc thì cả hai mẹ con cùng khóc.

Một hôm,tình trạng ấy lại tái diễn. Tôi buồn bã bỏ học,lang thang ra bờ sông vắng. Nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy,bỗng dưng tôi muốn chết… Tôi định nhảy ùm xuống. Mặc cho dòng nước cuốn trôi đến đâu thì đến,chết lại càng hay! Lũ trẻ sẽ chẳng còn trêu chọc tôi được nữa và nỗi khổ tâm của tôi sẽ hoàn toàn chấm dứt.

Tôi chìm ngập trong cảm xúc đau thương. Gối đầu lên đôi bàn tay, tôi nằm ngửa nhìn trời. Trên cao là bầu trời xanh cao vời vợi. Những đám mây đủ mọi hình thù lãng đãng trôi. Ô kìa! Rõ ràng ba đám mây trắng ở sát bên nhau trông giống bố mẹ cùng dắt tay đứa con thơ. Tôi chợt bật khóc nức nở và gọi thật to: “Bố ơi! Bố ở đâu? Sao bố không về với con?”. Không một lời đáp lại. Chỉ có tiếng gió thổi xào xạc trong đám sậy ven sông. Tôi úp mặt xuống cỏ ướt, dần dần tỉnh lại. Rồi tôi nghĩ đến mẹ, Mẹ Blăng-sốt yêu quý của tôi! Nếu tôi không về nhà đúng giờ,mẹ sẽ lo lắng,sốt ruột biết chừng nào! Nếu tôi chết, chắc mẹ sẽ khóc hết nước mắt, có khi mẹ cũng sẽ chết theo tôi. Hình dung ra cảnh tượng ấy, tôi tự sỉ vả mình là đồ nhu nhược,đồ hèn! Không,tôi chẳng việc gì mà phải chết! Tôi phải đi học, lớn lên còn đi làm kiếm tiền nuôi mẹ chứ! Người mẹ dịu dàng, chịu thương chịu khó đã nuôi tôi khôn lớn. Mẹ là tất cả những gì tôi có trong cuộc đời này.

Đang miên man nghĩ,tôi chợt nghe tiếng bước chân tới gần. Tôi ngồi dậy nhìn,thì ra bác thợ rèn Phi-líp ở đầu làng. Bác Phi-líp có mái tóc xoăn và bộ râu quai nón bao quanh gương mặt vuông vức. Đôi mắt xanh nheo nheo hóm hỉnh dưới hàng lông mày rậm. Thân hình bác to lớn hơn hẳn người thường. Chân bác đi đôi ủng đã cũ. Bác đang sải những bước mạnh mẽ về phía tôi. Ngắm bác, tôi càng thèm khát có được một người cha như bác.

– Bé con! Sao cháu lại ở đây? Trốn học hả?

Bác Phi-líp cất giọng ồm ồm hỏi tôi. Tôi chỉ nhún vai,không đáp. Bác Phi-líp ngồi xuống, nâng nhẹ mặt tôi:

– Tại sao cháu khóc? Nói cho bác nghe nào!

Tôi òa khóc nức nở, nghẹn ngào:

– Bác ơi! Chúng nó trêu chọc cháu, chửi cháu là đồ con hoang, đồ không có bố!

– Tệ thật! Thế bây giờ, bác có thể giúp cháu gì nào?

– Cháu muốn có bố! Cháu muốn có bố như chúng nó!

Trán bác Phi-líp nhăn lại, cái đầu cứ gật gật liên tục. Bác bảo tôi:

– Thế bác sẽ nhận cháu làm con nuôi nhé! Cháu gọi bác là bố,còn bác gọi cháu là con. Được chưa nào?!

Còn gì hay hơn thế nữa?! Tôi sung sướng ôm ghì lấy cổ bác Phi-líp,dụi mặt vào bộ ngực vạm vỡ của bác. Bác đưa tôi về. Mẹ tôi ngạc nhiên trước sự xuất hiện của bác. Nghe tôi kể đầu đuôi câu chuyện, mẹ tôi lúng túng cảm ơn bác rồi dắt tôi vào nhà.

Ngày hôm sau đi học, lũ bạn lại xúm vào trêu chọc tôi. Thay vì uất ức hay giận dữ, tôi kiêu hãnh đáp: “Bố tớ là bác thợ rèn Phi-líp!”.Lũ bạn nhao nhao : “Không đúng! Không đúng! Mày phải có một ông bố đàng hoàng như chúng tao cơ!”. Tôi không hiểu thế nào là một ông đàng hoàng nên đành nín nhịn, chờ tan buổi học.

Lúc đi ngang qua lò rèn, tôi rẽ vào gặp bác Phi-líp, kể mọi chuyện cho bác nghe. Tôi thấy vẻ mặt bác trầm ngâm hẳn. Bác lẩm bẩm : “Thôi được! Thôi được! Cháu hãy về nhà đi! Cháu sẽ có bố. Bác sẽ là ông bố thực sự,ông bố đàng hoàng của cháu!”.

Mấy hôm sau, một điều bất ngờ ghê gớm xảy ra: bác Phi-líp đến gặp mẹ tôi, ngỏ lời cầu hôn với mẹ Blăng-sốt của tôi. Bác bảo tôi cần có bố,cần người bảo vệ. Bác đã đem lại cơ hội cho mẹ tôi được làm vợ một người đàn ông tử tế. Khỏi phải nói tôi vui mừng đến chừng nào! Thế là từ nay, đố đứa nào dám ức hiếp tôi nữa. Bố Phi-líp mạnh mẽ và tốt bụng sẽ là chỗ dựa chắc chắn cho cuộc đời tôi. Mẹ tôi ngạc nhiên lắm, cứ hết nhìn tôi lại nhìn bác Phi-líp. Rồi mẹ lấy chiếc khăn choàng trên vai, lau nước mắt.

Bác Phi-líp đã dọn đến ở hẳn với hai mẹ con tôi. Mấy người thợ rèn khen hành động của bác là đúng,bác chỉ cười. Tôi rất thích được ngồi trên đôi vai rắn chắc của bác vào mỗi chiều để đi dạo dọc bờ sông. Tôi âu yếm gọi: “Bố Phi-líp của con! Con yêu bố lắm!”.

Với bài tham khảo :”Hãy tưởng tượng mình là Xi-mông, kể lại truyện Bố của Xi-mông.” chúc các bạn học tốt!

 

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN SINH HỌC LỚP 10 NĂM HỌC 1017-2018 – KÈM ĐÁP ÁN CHI TIẾT

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN SINH HỌC LỚP 10 NĂM HỌC 1017-2018

Thời gian làm bài 180 phút

Câu 1 (2,0 điểm).

Cho sơ đồ cấu trúc bậc 3 của 1 phân tử protein như sau:

a.Dựa vào sơ đồ hãy cho biết tên của các liên kết (1), (2), (3), (4), (5).

b.Hãy so sánh liên kết (2) và liên kết (3)?

c.Phân tử enzim ribonucleaza có cấu trúc bậc 3 gồm 124 gốc axit amin và có 4 cầu đíunfua hình thành giữa 8 axit amin loại Cystein.Người ta tiến hành thí nghiệm với phân tử này như sau: Ở pH = 7, dùng ure phá vỡ các loại liên kết trừ liên kết hóa trị, dùng Mecaptoetanol để khử 4 cầu đisunfua. Kết quả thấy phân tử enzim này bị duỗi ra và mất hoạt tính xúc tác. Loại bỏ ure và mecaptoetanol thì các cầu đíunfua dần được hình thành trở lại, cấu trúc bậc 3 được tái tạo, hoạt tính của enzim được khôi phục hoàn toàn.

Từ thí nghiệm trên em rút ra kết luận gì về vai trò của các loại liên kết và cấu trúc bậc 1 của protein?

Câu 2 (2,0 điểm).

Dựa và cấu tạo và tính chất của lipit trả lời các câu hỏi sau:

a.Tại sao trong chai gia vị salad, dầu thực vật tách khỏi dung dịch giấm?

b.Giả sử có lớp màng bao quanh hạt dầu tương tự như màng bao bọc quanh các tế bào hạt cây. Hãy cho biết màng này phải có đặc điểm gì giống và khác so với màng tế bào?

cTại sao ở nhiệt độ thường, mỡ cá ở trạng thái lỏng còn mỡ lợn thường ở trạng thái rắn?

Câu 3 (2,0 điểm).

        a.Một loại bào quan trong tế bào thực vật có chức năng làm cho tế bào có thể gia tăng kích thước nhanh chóng nhưng lại tiêu tốn rất ít năng lượng. Hãy giải thích chức năng của loại bào quan này.

b.Dựa vào cơ chế tổng hợp các thành phần của tế bào, hãy giải thích vì sao các nhóm carbohydrate của glycoprotein xuyên màng sinh chất luôn xuất hiện ở bề mặt phía ngoài tế bào mà không nằm ở bề mặt phía tế bào chất?

Câu 4. (2,0 điểm).

a.Nêu cơ chế điều chỉnh hoạt tính của enzim trong tế bào:

b.Phân biệt chất ức chế cạnh tranh và chất ức chế không cạnh tranh của enzim. Axit xucxinic là cơ chất của enzim xucxinat đêhyđrôgenaza. Axit malônic là một chất ức chế của enzim này. Làm thế nào để xác định được axit malônic là chất ức chế cạnh tranh hay chất ức chế không cạnh tranh?

Câu 5. (2,0 điểm).

Chất adrênalin gây đáp ứng ở tế bào gan bằng phản ứng phân giải glicôgen thành glucôzơ, nhưng khi tiêm adrênalin vào tế bào gan thì không gây được đáp ứng đó.

a.Tại sao có hiện tượng trên?

b.Trong con đường truyền tín hiệu từ adrênalin đến phản ứng phân giải glicôgen, chất AMP vòng (cAMP) có vai trò gì?

c.Vẽ sơ đồ con đường truyền tín hiệu từ adrênalin đến phản ứng phân giải glicôgen.

Câu 6. (2,0 điểm).

Trong tinh hoàn của một con gà trống (2n =78) có một  nhóm tế bào sinh dục sơ khai trải qua vùng sinh sản tạo ra tất cả 2000 tế bào con, trong đó có 1/4 số tế bào trong nhóm nguyên phân 5 lần liên tiếp như nhau, 1/3 số tế bào trong nhóm nguyên phân 4 lần liên tiếp như nhau, các tế bào còn lại nguyên phân 3 lần như nhau. Tất cả các tế bào con đều trải qua vùng chín. Có 0,5% số tinh trùng được hình thành trực tiếp kết thụ tinh với các trứng. Các trứng hình thành trong buồng trứng của gà mái đều được gà mái đẻ ra và người ta đã thu được 60 trứng.Nhưng sau khi ấp lại chỉ nở được 32 con gà con.

a.Tính số tế bào sinh dục sơ khai ban đầu?

b.Tính số tinh trùng trực tiếp thụ tinh với trứng?

c.Số trứng không nở có bộ NST như thế nào ?

Câu 7. (2,0 điểm):

Cho sơ đồ thí nghiệm về tác động của yếu tố tăng trưởng tiểu cầu PDGF như sau:

a.Nêu kết quả thí nghiệm? Giải thích?

b.Nếu được bổ sumg đủ các chất dinh dưỡng thì các tế bào trong bình có PDGF có phân chia mãi không? Tại sao?

c.Nếu ở bình có PDGF được bổ sung thêm các ức chế quá trình phosphoryl hóa các thụ thể của PDFF thì kết quả sẽ như thế nào? Giải thích?

Câu 8. (2,0 điểm):

a.Nêu đặc điểm cấu tạo của virut cúm. Sự nhân lên của virut cúm diễn ra như thế nào?

b.Tại sao virut cúm biến đổi liên tục và tại sao rất khó tạo ra một loại vacxin để phòng ngừa tất cả các chủng cúm?

Câu 9. (2,0 điểm):

a.Tại sao khi tiêm chủng vacxin thương hàn cho người thì người đó không mắc bệnh?

b.Khi ghép thủy tinh thể nhân tạo vào mắt người bị hỏng thủy tinh thể thì không gây phản ứng miễn dịch tại sao?

Câu 10. (2,0 điểm):

a.Thế nào là vi sinh vật nguyên dưỡng, vi sinh vật khuyết dưỡng?

b.Hãy giải thích tại sao có những vi khuẩn khuyết dưỡng không thể sống được trên môi trường nuôi cấy tối thiểu nhưng khi được nuôi cấy chung với một chủng vi sinh vật nguyên dưỡng khác thì cả 2 đều sinh trưởng và phát triển bình thường?

 HƯỚNG DẪN CHẤM ĐIỂM ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN SINH HỌC LỚP 10 NĂM HỌC 1017-2018                

Câu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

Nội dung Điểm
a.

(1): Liên kết hóa trị.   (2): Liên kết Van der waals.

(3): Liên kết hidro.     (4): Liên kết ion.     (5): Cầu đíunfua

 

 0,5

 

b.

So sánh liên kết hidro và lực van de van:

*Giống nhau:

– Đều là những liên kết yếu, năng lượng liên kết nhỏ.

– Dễ hình thành và dễ bị phá vỡ mà không cần nhều năng lượng.

– Có tính thuận nghịch: có thể hình thành và tách nhau khi cần.

-Tuy là liên kết yếu nhưng có số lượng lớn nên nó có thể duy trì tính ổn định của các phân tử

*Khác nhau:

Liên kết hidro Lực van der waals
– Là liên kết được tạo ra do lực hút tĩnh điện giữa mộ nguyên tử mang điện tích âm với nguyên tử hidro đang liên kết cộng hóa trị với nguyên tử khác.

– Chỉ xảy ra với các phân tử phân cực.

 

 

– Năng lượng liên kết cao hơn (khoảng 5 kcal/mol).

-Tính đặc hiệu cao hơn, phụ thuộc vào cấu hình của phân tử tham gia liên kết.

– Là liên kết được hình thành do sự tương tác đặc hiệu giữa hai nguyên tử khi chúng ở gần nhau.

 

 

– Không phụ thuộc vào tính phân cực, chỉ phụ thuộc vào khoảng cách giữa các nguyên tử.

 

– Năng lượng liên kết thấp hơn

( khoảng 1 kcal/mol).

-Tính đặc hiệu thâp hơn, không phụ thuộc vào cấu hìh các phân tử tham gia liên kết.

 

 

0,25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0.5

 

 

 

 

 

 

 

c. Kết luận về vai trò của các loại liên kết:

– Liên kết hóa trị là liên kết mạnh, bền vững, không bị phá vỡ trong các điều kiện sinh lí bình thường. Có vai trò duy trì ổn định cấu trúc bậc 1 của protein.

– Liên kết yếu như liên kết ion, liên kết hidro, lực van de van là các liên kết:

+ Dễ hình thành và dễ bị phá vỡ không cần nhiều năng lượng,

+ Có tính thuận nghịch.

+ Các liên kết này tuy yếu nhưng có số lượng lớn nên vẫn đảm bảo cấu trúc bền vững tương đối trong cấu trúc các phân tử.

* Cấu trúc bậc 1 mang thông tin quy định cấu trúc bậc 3 (Cấu hình không gian ba chiều của protein).

 

0,25

 

 

0,25

 

 

 

 

0,25

2 a.

Trong dung dịch của chai salad chứa giấm và dầu thực vật, các phân tử giấm (axit axetic) phân cực nên các phân tử này liên kết hidro với các phân tử nước làm cho chúng tan trong nước.

Các phân tử dầu thực vật không phân cực, chúng có xu hướng tương tác với nhau bằng lục van der waals tạo thành một lớp riêng.

 

0, 5

 

b.

*Giống:

Lipit của  lớp màng hạt dầu cũng phải bằng photpholipit vì phân tử photpholipit có đầu ưa nước quay ra ngoài che chắn cho đuôi kị nước khỏi ngập trong nước.

*Khác:

Màng hạt dầu cấu tạo từ một lớp photpholopit chứ không phải từ hai lớp photpholipit vì các đuôi kị nước của photpholipit màng tiếp xúc trực tiếp với vùng hidrocacbon các phân tử dầu thì màng sẽ bền vững hơn.

 

 

0,5

 

 

0,5

 

 

c .

– Mỡ cá có nhiều axit béo không no, có các liên kết đôi ở dạng cis, mạch  cacbon dạng xoắn co dãn linh động, ngăn các phân tử bó chặt lại với nhau.

– Mỡ lợn chứa các axit béo no, mạch cacbon dạng duỗi thẳng nên các phân tử bó chặt lại với nhau làm cho mỡ có trạng thái đông đặc.

 

0,25

 

0,25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3

a.

– Bào quan đó là không bào. Không bào lớn (không bào trung tâm) hút nước và gia tăng kích thước làm cho tế bào trương lên khi thành tế bào đã được axit hóa làm giãn ra. Do vậy tế bào có thể nhanh chóng gia tăng kích thước rồi sau đó mới tổng hợp các chất cần thiết.

– Loại bào quan này ở thực vật còn có chức năng như dự trữ các chất dinh dưỡng, chúa các chất độc hại với tế bào, là kho dự trữ các ion cần thiết cho tế bào, không bào ở cánh hoa còn chứa sắc tố giúp hấp dẫn côn trùng đến thụ phấn, không bào còn chứa các chất độc giúp thực vật chống lại các động vật ăn thực vật.

 

 

0,5

 

 

 

 

0,5

b.

-Trong quá trình tổng hợp protein xuyên màng, một phần chuỗi polypeptide được gắn vào màng lưới nội chất nhờ protein tín hiện, phần còn lại của chuỗi sẽ chui vào trong lưới nội chất.

-Sau khi protein được tổng hợp xong ở lưới nội chất, nó được chuyển sang bộ máy Golgi nhờ túi tiết. Tại đây, protein được biến đổi và gắn thêm carbohydrate, sau khi hoàn thiện, chúng lại được vận chuyển đến màng tế bào. Vì nhóm carbohydrate của glycoprotein nằm trong túi tiết nên khi túi tiết dung hợp với màng tế bào thì nhóm carbohydrate trong túi sẽ lộn ra bên ngoài màng tế bào.

 

0,5

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4

a.

– Sự điều hòa dị lập thể của enzim: nhờ các chất hoạt hóa và chất ức chế gắn vào enzim kiểu như chất ức chế thuận nghịch không cạnh tranh và làm thay đổi hình dạng enzim theo hướng giúp tăng hoạt tính enzim hoặc làm mất hoạt tính enzim.

– Ức chế ngược: sản phẩm cuối cùng của con đường chuyển hóa ức chế dị lập thể enzim ở bước đầu của con đường chuyển hóa. Đây là phương thức phổ biến trong điều hòa chuyển hóa.

– Sự định vị đặc hiệu của enzim trong tế bào: giúp các phản ứng diễn ra theo trình tự một cách thuận lợi.

 

 

0,5

 

0,25

 

0,25

b.

– Phân biệt:

        +/ Chất ức chế cạnh tranh: có cấu tạo hóa học và hình dạng khá giống với cơ chất. Khi có mặt cả cơ chất và chất ức chế sẽ xảy ra sự cạnh tranh về trung tâm hoạt tính và dẫn đến kìm hãm hoạt động của enzim. Do phức hệ enzim – chất ức chế rất bền vững, như vậy không còn trung tâm hoạt động cho cơ chất nữa.

       +/Chất ức chế không cạnh tranh: chúng không kết hợp với trung tâm hoạt tính của enzim mà kết hợp với enzim gây nên các biến đổi gián tiếp hình thù trung tâm hoạt động làm nó không phù hợp với cấu hình của cơ chất.

   – Làm tăng nồng độ cơ chất (axit xucxinic), xem xét tốc độ của phản ứng tăng lên hay không. Nếu tốc độ phản ứng tăng lên thì axit malônic là một chất ức chế cạnh tranh.

 

 

 

0,25

 

 

0,25

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

5

a.

Adrênalin (epinephrin) tác động lên tế bào gan bằng cách liên kết đặc thù với thụ thể màng, phức hệ [adrênalin/thụ thể] hoạt hóa prôtêin G, prôtêin G hoạt hóa enzym adênylat  cyclaza, enzym này phân giải ATP → AMP vòng (cAMP), cAMP hoạt hóa các enzym kinaza, các enzym này chuyển nhóm phosphat và hoạt hoá enzym glicôgen phosphorylaza là enzym xúc tác phân giải glicôgen thành glucôzơ. Tiêm adrênalin trực tiếp vào trong tế bào không gây đáp ứng do thiếu thụ thể màng.

1,0
b.

cAMP có vai trò là chất thông tin thứ hai có chức năng hoạt hóa enzym photphorilaza phân giải glycogen → glucôzơ, đồng thời có vai trò khuếch đại thông tin: 1 phân tử adrênalin → 104 phân tử cAMP → 108 phân tử glucôzơ.

0,5
c.

Adrênalin → thụ thể màng → Prôtêin G → enzym adênylat cyclaza → cAMP → các kinaza  →  glicôgen phosphorylaza → (glicôgen  → glucôzơ).

(Lưu ý: đối với ý a và ý c, thí sinh có thể vẽ sơ đồ con đường truyền tín hiệu theo cách khác; có thể thí sinh mô tả thiếu 1 – 2 bước liên quan đến hoạt động của các enzym kinaza vẫn cho đủ điểm như đáp án).

0.5
 

 

 

 

 

 

6

a.

Gọi x là số tế bào sinh dục sơ khai của nhóm tế bào

x/4.25 + x/3.24 + (x- x/3 – x/4).23 = 2000

x = 120

0.5
b.

Số tinh trùng tạo ra: 2000.4 = 8000

Số tinh trùng thụ tinh với trứng: 0,5%.8000 = 40

0.5
c.

Số trứng không nở: 60-40 = 20.

Số trứng được thụ tinh không nở : 40 – 32 = 8.

Bộ NST của các trứng này : 78.

Số trứng không được thụ tinh: 20 – 8 = 12

Bộ NST của các trứng này: 39

 

 

 

0.5

 

0.5

 

 

 

 

 

 

7

a.

Kết quả TN:

Bình không có PDGF: Tế bào không phân chia.

Bình có PDGF: Tế bào phân chia

0.5
b. Giải thích:

PDGF có trong môi trường liên kết với các thụ thể trên màng sinh chất của các nguyên bào sợi → kích hoạt con đường truyền tin cho phép tế bào vượt qua điểm kiểm soát G1 bước vào phân chia.

Trong bình đối chứng không có PDGF nên không kích thích con đường truyền tin nên tế bào không qua điểm kiểm soát G1 nên tế bào không phân chia

0.75
c.

Khi các nguyên bào sợi phủ kín bề mặt bình nuôi cấy thì sẽ không phân chia nữa vì protein bề mặt của tế bào này tiếp xúc với protein tương ứng trên bề mặt của tê bào bên cạnh sẽ gửi tín hiệu ngăn cản chu kì tế bào.

Thụ thể của PDGF bị bất hoạt nên không tiếp nhận PDGF → không kích thích con đường truyền tin → tế bào không phân chia.

0.75
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8

*Cấu trúc dạng khối, có vỏ ngoài

-Vật chất di truyền

+ARN đơn âm, gen phân đoạn.

+Có 8 đoạn gen trong đó có 1 đoạn mã hóa cho gai H và một đoạn mã hóa cho gai N. Có 9 gai N( N1 – N9) và 16 gai H (H1 – H16)

*Sự nhân lên

-Hấp phụ: Nhờ gai glicoprotein

-Xâm nhập:Nhập bào

-Tổng hợp:

Phiên mã trong nhân

Dịch mã trong tế bào chất

-Lắp ráp: Trong nhân.

-Giải phóng: Nảy chồi

0.5

 

 

 

 

 

0.5

*Virut cúm

ARN dễ biến đổi vì:

Vật chất di truyền là ARN,khi sao chép ARN- polimeraza không có cơ chế tự sửa chữa nên dễ bị đột biến.

Mặt khác, khi các chủng virut khi xâm nhiễm vào một tế bào có thể hoán vị các gen cho nhau tạo ra các virut tái tổ hợp

→ virut cúm đẽ biến đổi tạo ra các chủng virut mới.

*Khó sản xuất loại vacxin chống tát cả các loại virut cúm vì:

Mỗi vacxin chỉ chứa một hay hai loại kháng nguyên đặc hiệu cho hai loại virut cúm , trong khi virut cúm luôn phát sinh các biến thể mới→ không có vacxin phòng tất cả các loại cúm.

 

0.5

 

 

 

 

 

0.5

 

 

 

 

 

 

9

 

– Vacxin thương hàn là các vi khuẩn bị làm yếu (ví dụ polisaccarit của lớp vỏ nhầy chứa kháng nguyên) vẫn có tính kháng nguyên → kích thích sinh kháng thể, đồng thời kích thích sinh tế bào nhớ.

Khi vi khuẩn thương hàn xâm nhập trở lại sẽ kích thích sinh kháng thể nhanh hơn và nhiều hơn nên người đó không bị bệnh này nữa.

 

1,0

– Thủy tinh thể nhân tạo có bản chất là nhựa silic hoặc polymethacrylate,… những chất này không có tính kháng nguyên ( khối lượng không đủ lớn, không có cấu tạo phức tạp,…) → không tạo phản ứng miễn dịch → không bị đào thải 1,0
 

 

 

 

 

 

 

 

10

a.

– Vi sinh vật nguyên dưỡng là những vi sinh vật có thể sinh trưởng, phát triển trong môi trường nuôi cấy tối thiểu (hay là những vi sinh vật không nhất thiết cần các nhân tố sinh trưởng)

– Vi sinh vật khuyết dưỡng là những vi sinh vật không thể sống trong môi trường tối thiểu vì thiếu nhân tố sinh trưởng nào đó mà chúng không thể tự tổng hợp được

0,5

 

0,5

b.

– Chủng khuyết dưỡng không thể sống trên môi trường nuôi cấy tối thiểu đượcvì chúng thiếu nhân tố sinh trưởng mà chúng không thể tự tổng hợp được

– Khi nuôi cấy 2 chủng nguyên dưỡng và khuyết dưỡng chung trong môi trường tối thiểu thì chủng nguyên dưỡng tổng hợp được 1 hợp chất được xem là nhân tố sinh trưởng đối với chủng thứ 2. Vì vậy chủng thứ 2 cũng sinh trưởng và phát triển bình thường cùng chủng thứ nhất.

0,5

 

0,5

Trên đây là ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN SINH HỌC LỚP 10 NĂM HỌC 1017-2018 kèm đáp án chi tiết. Chúc các em học tốt!.

 

 

 

Câu hỏi ôn tập: Trung quốc thời phong kiến

Câu hỏi ôn tập: Trung quốc thời phong kiến

Câu hỏi 1 :Những biểu hiện sự thịnh trị về kinh tế chính trị của xã hội phong kiến Trung Quốc dưới thời Đường là gì ?

Chế độ phong kiến Trung Quốc dưới thời Đường đã đạt đến đỉnh cao của nó. So với các triều đại trước, kinh tế phát triển tương đối toàn diện. Cùng với các biện pháp giảm tô thuế, bớt sưu dịch, nhà Đường lấy đất công và ruộng bỏ hoang chia cho nông dân gọi là chế độ quán điền. Khi nhận ruộng, nông dân phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước theo chế độ tô, dung. điệu. Người ta cũng áp dụng những kĩ thuật canh tác mới vào sản xuất như chọn giống, xác định thời vụ. Nhờ vậy, sản lượng tăng nhiều hơn trước. Thủ công nghiệp và thương nghiệp bước vào giai đoạn thịnh đạt. Xưởng thủ công (gọi là tác phường) luyện sắt., đóng thuyền có hàng chục người làm việc.

Vào thời Đường, từ các tuyến đường giao thông đã được hình thành trong các thế kỉ trước, hai “con đường tơ lụa” trên đất liền và trên biển cũng được thiết lập, mở rộng

Câu hỏi 2: Những mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới thời Minh đã xuất hiện như thế nào ?

Các vua triều Minh đã thi hành nhiều biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế. Đến đầu thế kỉ XVI, mầm mống quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ở Trung Quốc.

Một số nghề đã có những xưởng thủ công tương đổi lớn. Ở Giang Tây có những trung tâm làm đồ gốm lớn như cảnh Đức có tới 3000 lò sứ. Có những chủ xưởng dệt nắm trong tay hàng vạn lạng bạc tiền vốn, hàng chục khung cửi và hàng chục thợ. Những người thợ này làm thuê để lấy tiền công. Bấy giờ, các nhà buôn lớn cũng xuất hiện. Họ có nhiều vốn và nguyên liệu, đem giao cho các hộ thủ công làm để thu thành phẩm. Các thương nhân bảo mua, đem hàng đi trao đổi khắp trong và ngoài nước. Hoat động của họ thâm nhập vào cả lĩnh vực nông nghiệp như mùa xuân họ xuất vốn cho nông dân trồng mía, mùa đông thu lại bằng đường.

Các thành thị ở thời Minh mọc lên nhiều và rất phồn thịnh. Bắc Kinh, Nam Kinh không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là trung tâm kinh tế lớn.

Minh Thái Tổ rất quan tâm đến việc xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền nhằm chấm dứt tình trạng hỗn chiến và mưu phản. Năm 1380, ông quyết định bỏ các chức Thừa tướng, Thái uý và thay vào đó là các Thượng thư phụ trách các bộ. Nhà Minh đã lập ra 6 bộ (Lại. Hộ, Lễ. Binh, Hình, Công), hoàn chỉnh bộ máy quan lại. Các quan ở tỉnh chịu sự chỉ đạo của các bộ ở triều đình. Hoàng đế tập trung mọi quyền hành trong tay, trực tiếp nắm quân đội. Hoàng đế còn tăng cường phong tước và ban cấp đất đai cho con cháu trong hoàng tộc, công thần thân tín để làm chỗ dựa cho triều đình.

Cuối thời Minh, việc bao chiếm và tập trung ruộng đất vào tay giai cấp quý tộc, địa chủ diễn ra nghiêm trọng. Các vương công có nhiều “hoàng trang”, ruộng đất mênh mông. Địa chủ ở địa phương có tới hàng nghìn mẫu ruộng. Ngược lại, nông dân đói nghèo vì ít ruộng, sưu dịch và tô thuế nặng nề. Nhiều người phải cầm ruộng, bán vợ đợ con, hoặc bỏ quê hương đi tha phương cầu thực. Khởi nghĩa nông dân lại nổ ra. Cuộc nổi dậy của Lý Tự Thành làm cho triều Minh sụp đổ.

 

Câu hỏi 3: Ảnh hưởng của chính sách áp bức dân tộc của triều Thanh đối với sự phát triển của lịch sử Trung Quốc như thế nào?

Giữa lúc đó, một bộ tộc ở Đông Bắc Trung Quốc là Mãn Thanh đã đánh bại Lý Tự Thành, lập ra nhà Thanh (1644 – 1911). Giống như triều Nguyên trước đây, nhà Thanh thi hành chính sách áp bức dân tộc. Giai cấp thống trị Thanh buộc người Trung Quốc phải theo phong tục của người Mãn từ y phục đến đầu tóc. Mặc dù các hoàng đế Thanh dùng các biện pháp vỗ về, mua chuộc giai cấp địa chủ người Hán, giảm nhẹ tô thuế cho nông dân, khuyến khích khẩn hoang, nhưng không thể làm cho mâu thuẫn dân tộc dịu đi. Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở khắp nơi đã làm cho chính quyền nhà Thanh suy yếu dần.

Lợi dụng cơ hội trên, tư bản phương Tây đua nhau nhòm ngó, xâm lược Trung Quốc. Chính sách “bế quan toả cảng” của nhà Thanh không những khồng hạn chế được việc thươns nhân châu Âu đưa nhiều hàng lậu vào Trung Quốc mà còn gây nên cuộc xung đột kịch liệt, dẫn đến sự suy sụp của chế độ phong kiến Trung Quốc.

 

Câu hỏi 4: Hãy tìm hiểu thêm về 4 phát minh lớn của Trung Quốc thời phong kiến.

4 phát minh lớn của phong kiến Trung quốc: Cái cày sắt (nhà Hán: năm 202 trước CN – năm 220); Máy khoan (nhà Hán: năm 202 trước CN – năm 220); Bánh lái tàu thủy (nhà Hán: năm 202 trước CN – năm 220); Giấy vệ sinh (nhà Tùy: năm 581 – năm 618).
Kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của Trung quốc: kinh đô Lạc Dương, Vạn lý trường thành, Cố cung Bắc Kinh, Di hoà viên, Thập tam lăng…

Câu hỏi 5: Chế độ phong kiến Trung Quốc hình thành như thế nào ?

Chế độ phong kiến Trung Quốc hình thành :

– Thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc ở Trung Quốc (khoảng thế kỉ V TCN) là thời kì có nhiều biến động lớn về kinh tế – xã hội, chính trị và văn hoá dẫn đến sự sụp đổ của chế độ chiếm nô và hình thành chế độ phong kiến ở Trung Quốc.

– Về mặt kinh tế, công cụ đồ sắt xuất hiện làm cho nông nghiệp và thủ công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh. Quan lại và một số nông dân giàu có đã lập trung trong tay nhiều của cải. Bằng quyền lực của mình, họ còn tước đoạt thêm nhiều ruộng đất công. Do đó, một giai cấp mới hình thành – giai cấp địa chủ bóc lột.

– Cùng với quá trình hình thành giai cấp địa chủ, nông dân cũng bị phân hoá. Một bộ phận giàu có thì nhập vào giai cấp bóc lột. Số khác vẫn giữ được ruộng đất dể cày cấy, họ là nông dân tự canh, có nghĩa vụ nộp thuế, đi lao dịch cho nhà nước. Số còn lại thì nghèo khổ, không có ruộng đất, phải xin nhận ruộng của địa chủ để cày cấy. Khi nhận ruộng, họ phải nộp một phần hoa lợi cho địa chủ, gọi là tô ruộng đất. Tầng lớp xã hội cuối cùng này là những tá điền, hay nông dân lĩnh canh.

Như vậy, quan hệ chủ yếu trước kia là quan hệ bóc lột giữa quý tộc đối với nông dân công xã dần dần nhường chỗ cho quan hệ bóc lột địa tô của địa chủ với nông dân tự canh. Quan hệ phong kiến do đó mà xuất hiện.

Với “Câu hỏi ôn tập: Trung quốc thời phong kiến” chúc các bạn học tốt!