Phân tích bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu

Các tác phẩm thơ của Xuân Diệu luôn là những tác phẩm lưu lại tên tuổi của ông. Để thấy rõ phong cách đậm đà trong thơ của ông, chúng tôi xin giới thiệu bài văn Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Bài văn mẫu Phân tích bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu

Mở bài Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Nếu cần tìm một bài thơ bộc lộ rõ nhất về phong cách của Xuân Diệu thì chưa cần phải phân tích bài thơ Vội Vàng mà ngay từ tiêu đề của nó ta đã thấy rõ phong cách của ông. Thi phẩm này đã nói với chúng ta cái cảm xúc vồ vập với cuộc đời của tuổi trẻ. Thơ Xuân Diệu bao giờ cũng vội vàng, cuống quýt, nó là những cung bậc rạo rực băn khoăn vì thế mà khi vui cũng như khi buồn đều thấy nống nàn, tha thiết.

Thân bài Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Người ta thường nói “Vội vàng” là bản tự bạch đầy đủ nhất về phong cách sống của Xuân Diệu. Vì thế mà tác phẩm có màu sắc luận đề, có thể diễn đạt bài văn nghị luận bằng thơ này như sau: Trần gian rất đẹp, tôi muốn giữ lấy nó. Nhưng quy luật của thời gian của tạo hóa không đê cho tuổi trẻ vĩnh hằng. Cho nên muốn sống nhanh hơn trong mỗi giây, mỗi phút của cuộc đời ta cần phải sống vội vàng hơn.

Cảm nhận thời gian và tuổi trẻ trôi đi không lấy lại được chính là một tư duy triết học từ hàng ngàn năm nay, nên vấn đề Xuân Diệu nêu ra trong bài thơ này không lạ. Nhưng cái mới của nó chính là sự diễn đạt bằng thơ ca qua những biến tấu của trái tim đầy cảm xúc vui buồn với cuộc đời, với tình yêu, với tuổi trẻ. Đi sâu vào phân tích bài thơ Vội Vàng ở bốn câu thơ mở đầu nhà thơ xưng “tôi” và tuyên bố muốn tước đoạt cái quyền của Tạo hóa để những gì thuộc về sự sống tươi đẹp phải là vĩnh cửu.

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.”

Sắc và hương ở đây là sự cảm nhận của thị giác và khứu giác. Sắc và hương là những báu vật của sự sống tươi đẹp này. Sau hai tiếng “tôi muốn” là hai động từ mạnh mang thanh trắc là “tắt” và “buộc”. Cùng với thể thơ ngũ ngôn rất ngắn gọn, lời tuyên bố của Xuân Diệu thật đĩnh đạc, cao giọng và nghiêm trọng.

Khi phân tích bài thơ Vội Vàng ở những đoạn thơ sau là những câu thơ tám chữ, Xuân Diệu như dắt chúng ta đồng hành vào khu vườn thiên đường trần thế của sự sống. Nhà thơ chỉ cho mọi người thấy những báu vật mà tạo tạo hóa ban phát cho trần gian, cho tuổi trẻ hạnh phúc.

Sự cảm nhận đầu tiên là hạnh phúc của ong và bướm:

 “Của ong bướm này đây tuần tháng mật: “Tuần tháng mật” là không gian riêng dành cho ong và bướm. Ba tiếng ấy còn gợi cho ta thời gian hạnh phúc trong quan hệ lứa đôi: tuần trăng mật. Ngoài ra nó còn gợi cho một niềm hạnh phúc tươi vui, tràn đầy vì lúc nào ong và bướm cũng hút đầy mật ngọt. Điều này gợi lên sự ngọt ngào trong quan hệ lứa đôi.

Câu thơ tiếp theo lại tạo nên quan hệ sở thuộc mới:

 “Này đây hoa của đồng nội xanh rì”

Tai sao đồng nội không xanh ngọc, xanh tơ mà lại là “xanh rì” màu xanh của sự già nua, tàn lụi? “Đồng nội xanh rì” đang sở hữu những bông hoa thơm hương tươi sắc. Miêu tả hoa mọc trên đồng nội ấy tức là nhà thơ muốn nói Tạo Hóa đang cho mùa xuân trở lại.

“Này đây là của cành tơ phơ phất”

Câu thơ này là một bản nhạc dịu dàng, lá cành đẫm chất xuân tình bởi vần thơ liền nhau “tơ phơ”, bởi sau vần “ơ” ấy là “phơ phất”. Đây là một không gian rất riêng, rất khác lạ, gợi cho ta quan hệ lứa đôi tuyệt vời hạnh phúc.

“Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”

Dường như trên “càng tơ phơ phất” ấy yến anh được là trọn vẹn của nhau, được sở hữu trọn vẹn khúc tình si mà tạo hóa ban phát. Đó là tiếng hót mà đôi chim kia không ngờ rằng nó nồng nàn đến thế.

Đoạn thơ lặp lại hai tiếng “này đây”, khi thì ở giữa câu thơ, khi thì ở đầu câu thơ. Nó tạo cảm giác cho ta thấy nơi này hạnh phúc, nơi kia hạnh phúc. “Này đây” còn cho ta một ấn tượng vội vàng, hãy đi nhanh hơn nữa bởi vì khu vườn này còn nhiều điều kì thú và hấp dẫn hơn.

Rất nhiều ý kiến đã cắt nghĩa và hiểu là ánh mặt trời chói lọi của buổi bình minh tháng giêng mùa xuân khiến cho đôi mắt của cô gái phải chớp hàng mi. Thật ra cái độc đáo là Xuân Diệu lại nói điều ngược lại. Bình minh không phải phát ra từ mặt trời mà từ đôi mắt của người thiếu nữ. Đôi mắt ấy khẽ chớp hàng mi và nắng ấm dào dạt đã tuôn đầy khắp khu vườn tình ái. Hiểu như thế này chúng ta mới thấy rõ cái quan niệm thế là con người, cái giá trị nhất trên đời cũng là con người. Vì vậy mà đôi mắt của người thiếu nữ “chớp hàng mi” đã khiến cho thần Vui đến “gõ cửa” đem hạnh phúc cho muôn loài vào mỗi buổi sáng mai.

“Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa”.

Con người đẹp nhất trong tuổi trẻ và tuổi trẻ lại đẹp nhất trong tình yêu. Vì thế mà nhà thơ đã viết một câu thơ đầy gợi cảm thật khó lí giải hết bằng lời:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Tháng giêng là một khái niệm thời gian vậy mà ta lại cảm nhận bằng vị giác: nó rất ngon. Người đọc càng bất ngờ hơn khi cái ngon ấy lại là giá trị tinh thần gợi cho ta một tình yêu dẫu đắm đuối. “Cặp môi gần” là một nụ hôn sắp sửa, nó đưa người ta vào một thế giới đắm say hơn. Tháng giêng khởi đầu cho mùa xuân. Mùa xuân khởi đầu cho một năm. Tuổi trẻ khởi đầu cho một đời người, nụ hôn khởi đầu cho một tình yêu đắm say… Những sự khởi đầu bao giờ cũng tinh tế và hạnh phúc.

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”

Cảm nhận được hạnh phúc của tuổi trẻ được sống trong khu vườn thiên đàng trần thế, nhà thơ đã reo lên như trẻ con: “Tôi sung sướng”. Nhưng ngay lập tức niềm vui ấy không trọn vẹn bởi nhận thức của lí trí “nhưng vội vàng một nữa”.

Khi phân tích bài thơ Vội Vàng ở đoạn thơ đầu ta thấy rõ tiếng nói bồng bột của con tim thì ở đoạn thơ thứ hai lại là tiếng nói tĩnh táo của lí trí. Nếu đoạn thơ đầu là say mê, cởi mở thì đoạn thơ thứ hai nó đục tới, đau buồn, trầm lắng.

Ba câu thơ tiếp theo xuất hiện nhiều từ “xuân”. Phía bên này của hai tiếng “nghĩa là” có một mùa xuân tràn đầy sức sống, còn bên kia thì ngược lại. “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”

Cuối cùng là mối liên tưởng giữa “xuân” và “tôi”, giữa trần gian “xuân” của vũ trụ và cái “tôi” tuổi trẻ trong cuộc đời.

“Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”

Trong quan điểm của Xuân Diệu, thì đời người có ý nghĩa nhất là tuổi trẻ. Nếu như tuổi trẻ mất thì cuộc đời con người như đặt dấu chấm hết. Điều này ta thấy rõ khi phân tích bài thơ Vội Vàng ở những đoạn thơ trên. Sau khi có những nhận thức tỉnh táo về thời gian trôi đi không lấy lại bao giờ của kiếp người, nhà thơ đã có những câu thơ trách hờn với tạo hóa.

“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian;

Nói lam chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”

Tiếp theo là những câu thơ độc thoại với nỗi buồn trấm lắng mỗi lúc một bất lực, mỗi lúc mỗi ganh tị với tạo hóa.

“Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”

Các câu thơ sau đây là những âm bản của bức tranh về vườn địa đàng đầy hình ảnh, đầy âm nhạc ở phần đầu:

Khi nói tới:

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi”

Ta nghĩ đến:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

Không còn cái vị nồng nàn, ngọt ngào của hạnh phúc mà là vị chia phôi, rướm máu. Đã chia phôi chúng ta lại gặp tiếp hai tiếng “tiễn biệt”.

“Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”

Dường như cả khu vườn náo nức, hạnh phúc kia giờ chỉ còn là ảo ảnh.

Hai câu thơ:

“Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?”

Như một sự tương phản với câu thơ:

“Này đây lá của cành tơ phơ phất”

Ngọn gió khiến cho lá cành đều luyến ái “tơ phơ phất”, giờ chỉ còn thì thào sỡ sệt, nó phải mang một nỗi hờn rời bỏ lá cành kia. Hai dòng thơ: “Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”

Gợi cho ta khúc tình si say đắm của yến anh không hề bận lo toan với thời gian đang trôi đi quanh mình.

“Của yến anh này đây khúc tình si”

Càng cảm nhận sự chia phôi, tiễn biệt, bay đi càng cảm nhận một “độ phai tàn sắp sửa”. Trái tom tuổi trẻ ấy đã rơi vào khủng hoảng, nỗi buồn đau làm lòng người xót xa.

“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”

Câu thơ đã đưa ta đến với vô vọng, với bi quan tuyệt đối. Thế nhưng nhà thơ đã tìm ra một giải pháp chống lại quy luật nghiệt ngã của thời gian. Đó là:

“Mau đi thôi! Mùa xuân chưa ngả chiều hôm”.

Đây là giải pháp tích cực nhất để sử dụng cái quỹ thời gian hạn định mà tạo hóa không hề thay đổi với thế gian. “Vội vàng” nghĩa là sống chất lượng hơn, chủ động tận hưởng những niềm vui chính đáng mà Tạo Hóa ban tặng. “Vội vàng” nghĩa là tăng tốc độ cho những hồng cầu trong giọt máu của tuổi trẻ luôn chuyển nhanh hơn.

Nếu ở phần đầu nhà thơ tuyên bố “Tôi muốn tắt…”, “Tôi muốn buộc…” thì ở đây nhân danh cái “ta”, nhà thơ đã công khai một ước muốn:

“Ta muốn ôm…”

Để biểu hiện động thái vội vàng Xuân Diệu đã sử dụng dày đặc những động từ mỗi lúc một nhanh hơn. Từ chiếm hữu nhà thơ muốn chinh phục những gì mình có trong tay.

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn:

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi”.

Bắt đầu là “ta muốn ôm”, tiếp theo là “ta muốn riết”, rồi đến “say” từ cái chuếnh choáng hởi men của tình yêu mà muốn thu cả tinh hoa của đất trời trong một nụ hôn. Và kết thúc là thưởng thức mùa xuân của trần gian bằng một hành động rất bạo liệt thông qua một tuyên ngôn khoan nhượng.

“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Kết bài Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Qua phân tích bài thơ Vội Vàng, Xuân Diệu khuyên chúng ta hãy sống với trần gian với những gì Tạo Hóa ban tặng. Chúng ta không chỉ ngắm chúng mà phải sống với chúng. Hãy sống vội vàng chứ không nên chuẩn bị sống vội vàng.

Bài tập momen động lượng định luật bảo toàn momen động lượng

Momen động lượng, định luật bảo toàn momen động lượng. Momen động lượng, định luật bảo toàn momen động lượng
1.40. Phát biểu nào sau đây là đúng?
A. Khi một vật rắn chuyển động tịnh tiến thẳng thì mômen động lượng của nó đối với một trục quay bất kỳ không đổi.

B. Mômen quán tính của vật đối với một trục quay là lớn thì mômen động lượng của nó đối với trục đó cũng lớn.

C. Đối với một trục quay nhất định nếu mômen động lượng của vật tăng 4 lần thì mômen quán tính của nó cũng tăng 4 lần.

D. Mômen động lượng của một vật bằng không khi hợp lực tác dụng lên vật bằng không.
1.41. Các vận động viên nhảy cầu xuống nước có động tác “bó gối” thật chặt ở trên không là nhằm:
A. Giảm mômen quán tính để tăng tốc độ quay;

B. Tăng mômen quán tính để tăng tốc độ quay.

C. Giảm mômen quán tính để tăng mômen động lượng.

D. Tăng mômen quán tính để giảm tốc độ quay.
1.42. Con mèo khi rơi từ bất kỳ một tư thế nào, ngửa, nghiêng, hay chân sau xuống trước, vẫn tiếp đất nhẹ nhàng bằng bốn chân. Chắc chắn khi rơi không có một ngoại lực nào tạo ra một biến đổi momen động lượng. Hãy thử tìm xem bằng cách nào mèo làm thay đổi tư thế của mình.
A. Dùng đuôi.

B. Vặn mình bằng cách xoắn xương sống.

C. Chúc đầu cuộn mình lại.

D. Duỗi thẳng các chân ra sau và ra trước.
1.43. Các ngôi sao được sinh ra từ những khối khí lớn quay chậm và co dần thể tích lại do tác dụng của lực hấp dẫn. Tốc độ góc quay của sao:
A. không đổi;     B. tăng lên;    C. giảm đi;    D. bằng không
1.44. Một thanh nhẹ dài 1m quay đều trong mặt phẳng ngang xung quanh trục thẳng đứng đi qua trung điểm của thanh. Hai đầu thanh có hai chất điểm có khối lượng 2kg và 3kg. Tốc độ của mỗi chất điểm là 5m/s. Mômen động lượng của thanh là:
A. L = 7,5 kgm2/s;    B. L = 10,0 kgm2/s;   C. L = 12,5 kgm2/s; D. L = 15,0 kgm2/s
1.45. Một đĩa mài có mômen quán tính đối với trục quay của nó là 12kgm2. Đĩa chịu một mômen lực không đổi 16Nm, sau 33s kể từ lúc khởi động tốc độ góc của đĩa là:
A. 20rad/s;              B. 36rad/s;                 C. 44rad/s;             D. 52rad/s
1.46. Một đĩa mài có mômen quán tính đối với trục quay của nó là 12 kgm2. Đĩa chịu một mômen lực không đổi 16Nm, Mômen động lượng của đĩa tại thời điểm t = 33s là:
A. 30,6 kgm2/s;     B. 52,8 kgm2/s;     C. 66,2 kgm2/s;   D. 70,4 kgm2/s
1.47. Coi trái đất là một quả cầu đồng tính có khối lượng M = 6.1024kg, bán kính R = 6400 km. Mômen động lượng của trái đất trong sự quay quanh trục của nó là:
A. 5,18.1030 kgm2/s; B. 5,83.1031 kgm2/s; C. 6,28.1032 kgm2/s; D. 7,15.1033 kgm2/s
1.48. Một người đứng trên một chiếc ghế đang quay, hai tay cầm hai quả tạ. Khi người ấy dang tay theo phương ngang, ghế và người quay với tốc độ góc . Ma sát ở trục quay nhỏ không đáng kể. Sau đó người ấy co tay lại kéo hai quả tạ gần người sát vai. Tốc độ góc mới của hệ “người + ghế”
A. tăng lên.

B. Giảm đi.

C. Lúc đầu tăng, sau đó giảm dần bằng 0.

D. Lúc đầu giảm sau đó bằng 0.
1.49. Hai đĩa mỏng nằm ngang có cùng trục quay thẳng đứng đi qua tâm của chúng. Đĩa 1 có mômen quán tính I1 đang quay với tốc độ ω0, đĩa 2 có mômen quán tính I2 ban đầu đứng yên. Thả nhẹ đĩa 2 xuống đĩa 1 sau một khoảng thời gian ngắn hai đĩa cùng quay với tốc độ góc ω

 

1.50. Một đĩa đặc có bán kính 0,25m, đĩa có thể quay xung quanh trục đối xứng đi qua tâm và vuông góc với mặt phẳng đĩa. Đĩa chịu tác dụng của một mômen lực không đổi M = 3Nm. Sau 2s kể từ lúc đĩa bắt đầu quay vận tốc góc của đĩa là 24 rad/s. Mômen quán tính của đĩa là:
A. I = 3,60 kgm2; B. I = 0,25 kgm2; C. I = 7,50 kgm2; D. I = 1,85 kgm2
1.51. Một đĩa đặc có bán kính 0,25m, đĩa có thể quay xung quanh trục đối xứng đi qua tâm và vuông góc với mặt phẳng đĩa. Đĩa chịu tác dụng của một mômen lực không đổi M = 3Nm. Mômen động lượng của đĩa tại thời điểm t = 2s kể từ khi đĩa bắt đầu quay là:

A. 2 kgm2/s;             B. 4 kgm2/s;              C. 6 kgm2/s;           D. 7 kgm2/s

Bình giảng bài Xúc Cảnh (Ngóng gió đông) của Nguyễn Đình Chiểu.

Đề bài: Bình giảng bài “Ngóng gió đông” của Nguyễn Đình Chiểu.

Tìm hiểu đề

Đây là bài thơ trong tác phẩm Ngu Tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu. Xúc cảnh là lời ngâm của Đường Nhập Môn, một kẻ sĩ đi học nghề thuốc để cứu đời nhưng không gặp thời và đành ngậm ngùi nhìn cảnh nước mất nhà tan. Qua lời ngâm của nhân vật Đường Nhập Môn, Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm tâm sự của mình.

Khi bình giảng bài thơ, cần nắm được biện pháp dùng cảnh ngụ tình kín đáo mà thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu. Ngóng gió đông mang nhiều tầng nghĩa mà tiếng lòng, ao ước của tác giả được cất lên trực tiếp ở phần kết.

Cũng cần hiểu kết cấu một bài thơ Đường luật và bình ginagr Ngóng gió đông theo bốn phần (để, thực, luận, kết). Đặt bài thơ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Nam Bộ, của đất nước ta lúc bấy giờ thì mới hiểu hết được nỗi niềm thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu.

Dàn bài chi tiết về Bình giảng bài Xúc Cảnh (Ngóng gió đông) của Nguyễn Đình Chiểu.

1. Mở bài:

Nguyễn Đình Chiểu là ngọn cờ đầu của thơ ca yêu nước Nam Bộ mấy mươi năm cuối thế kỉ 19. Cuộc đời ông đã nêu cao tấm gương trung nghĩa với đất nước, nhân dân. Ngay tư khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ, bằng những tác phẩm văn thơ của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã giương cao lá cờ nghĩa cứu nước, đã cổ vũ cho cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân.

Nguyễn Đình Chiểu xót xa khi Nam Bộ quê hương dần dần lọt vào tay giặc. Sống trong vòng kìm kẹp của kẻ thù, dù chúng ta dụ dỗ, ông vẫn bất hợp tác, giữ trọn tấm lòng tiết nghĩa. Từ đây, văn thơ Nguyễn Đình Chiểu thấm đượm nỗi đau buồn và khắc khoải niềm trông đợi vào ngày mai, hi vọng vào sự khôi phục giang sơn, đất nước. Bài thơ Ngóng gió đông bộc lộ những cảm xúc thiết tha ấy:

“Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông, Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?
Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng
Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay há đội trời chung.
Chừng nào Thánh đế ân soi thấu
Mội trận mưa nhuần rửa núi sông.

II. Thân bài

1, Nhận xét chung: Bao trùm cả bài thơ là niềm ngóng trông vời vợi, khát vọng thiết tha. Qua đề tài ngóng gió mùa xuân mát lành, qua những hình ảnh thiên nhiên, Nguyễn Đình Chiểu kí tác tâm sự thành thực của mình. Lời kí thác này được diễn đạt bằng một bài thơ Đường luật theo thể thất ngôn bát cú với kết cấu chặt chẽ.

2, Hai câu đề: Nỗi niềm buồn rầu trông ngóng và lời hỏi vô vọng:

“Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông
Chúa xuân đâu hỡi có hay không?”

Trong cả bài thơ, phần đề này được viết theo lối ẩn dụ kín đáo mà thiết tha nhất. Nói” hoa cỏ” mà ngụ ý nói quê hương, đất nước, nói cả sông núi, nhân dân. Hoa cỏ đang trông ngóng đón đợi gió đông (gió mùa xuân) mát lành, đầm ấm để nảy nở tốt tươi cũng chính là nhân dân đang mong đợi những bậc anh hùng nào đó ra tay cứu nước. Vị thần mùa xuân có quyền lực đem lại sức sống cho muôn loài (chúa xuân) hay những bậc vua thánh tôi hiền đâu cả rồi, có hay không?. Chữ “ngùi ngùi” biểu hiện tâm trạng buồn rầu như muốn khóc. Chữ “ngóng” càng tô đậm vẻ thiết tha, nóng lòng của sự mong đợi. Có lẽ phải đợi phải ngóng lâu lắm rồi mới thiết tha và ngầm xót xa đến thế. Bởi vậy lời hỏi tìm dồn dập mà không gặp lời đáp, như vang vào không gian mông lung, trống không. Nam Bộ lần lượt rơi vào tay giặc. Lòng dân li tán. Triều đình không tổ chức kháng chiến. Chúa xuân đâu hỡi có hay không?

3, Hai câu thực: Càng mở rộng hơn, tô đậm hơn cái không gian mông lung xa vắng, cái cảm giác vô vọng ở hai câu đề:

“Mây giăng ải Bắc trông tin nhận
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.

“Mây giăng ải Bắc”, “Ngày xế xon Nam”, thủ pháp đối này diễn tả không gian mênh mông, thời gian đằng đẵng. Bốn phương trời đất nước, ngày cũng như đêm, ngạy nọ sang tháng kia đều mịt mờ, đều bặt mọi tin tức! “Mây giăng ải Bắc”, gợi tả không gian xa vắng, ảm đạm.” Ngày xế non Nam” gợi lên cảm giác tàn lụi. Chim nhạn hay chim hồng đâu mà chẳng thấy để phải ngóng trông vò võ thế này! Vân dùng các hình ảnh ước lệ nhưng hai câu thực này biểu hiện cảm động nỗi niềm trông ngóng rất thực ở nhà thơ. Mặt khác, nó cũng kín đáo thể hiện sự trách móc thái độ hờ hững của chúa xuân.

4, Hai câu luận: Cái mờ mịt của không gian, sự vô vọng trong thời gian ở trên đến đây hiển hiện trên bức tranh sông núi. Hai câu luận đưa ta trở về với hiện thực đau đớn của đất nước và nói lên tầm lòng trung trinh của con người:

“Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay há đội trời chung.

Ngẫm ra, ta thấy lời thơ vừa xót xa căm giận vừa oán trách. Ở đây có sự đối lập giữa “bờ cõi xưa”; và “đất khác”. “Bờ cõi xưa” là giang sơn có chủ quyền, là sống thiêng liêng được tạo dựng, giữ gìn bằng mồ hôi, xương máu của bao thế hệ cha ông. Ấy vậy mà giờ đây bờ cõi muôn đời ấy bỗng bị cắt chia cho kẻ khác, đã thành “đất khác”. Câu thơ nghe như tiếng khóc nức nở, căm giận. “Bờ cõi xưa” đã thành “đất khác” thì làm sao ta có thể “đội trời chung” với những kẻ mắt xanh mũi lõ, những kẻ can tâm ôm chân lũ giặc! Câu thơ sau vang lên như một lời thề. Trong lời thề …

Với dàn bài chi tiết “Bình giảng bài Xúc Cảnh (Ngóng gió đông) của Nguyễn Đình Chiểu.” ở trên chúc các em có thể ôn thi và làm những bài văn khác tốt hơn.

Phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông

Đề bài: Em hãy viết bài văn phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông

Mở bài: Phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông không những là một vị vua anh minh mà còn là người rất am hiểu thi luật, tâm hồn dạt dào rung cảm. Hơn 700 năm đã qua vần thơ như tiếng vọng thần kì của sông núi thiêng liêng. Hiện nay thơ của nhà vua còn lại không nhiều, chỉ có bài phú nôm “Cư trần lạc đạo phú” và vài chục bài thơ bằng chữ Hán. Trong đó hay nhất là những bài thơ viết vẻ mùa xuân.

Thân bài: Phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông

Xuân hiểu (Buổi sớm mùa xuân) là bài thơ xuân cổ tuyệt bút.

“Buổi sớm mùa xuân
Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay
Song song đôi bướm trắng
Phất phới sấn hoa bay”.

(Bản dịch của Ngô Tất Tố)

Mùa xuân là mùa của giao cảm giữa đất trời và lòng người. Nguyễn trãi cũng đã một lần bỡ ngỡ, hân loan trước đất trời trong màu xuân thắm thiết:

“Cỏ xuân như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời”.

(Bến đò xuân đầu trại)

Xuân đã đến từ tối hôm qua mà thi nhân chẳng hay. Sớm nay ngủ dậy muộn, vừa mở cửa sổ ra xem. Mới biết là xuân đã về. Thi nhân biết bao ngỡ ngàng, ngạc nhiên và xúc động:

“Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay”.

Đằng sau nội dung thông báo “xuân về vẫn chửa hay” hé lộ cho ta biết nhà thơ đang sống giữa những tháng ngày yên vui trong khung cảnh đất nước thanh bình. Phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông người đọc nhận thấy một giọng điệu khoan thai của vần thơ cũng là nhịp điệu ung dung của cuộc sống nhàn nhã sau khi đã đánh thắng lũ giặc phương Bắc. Gặp lại mùa xuân như gặp lại bạn cố tri vậy. Phải là người yêu thiên nhuên, mến cảnh đẹp, Trần Nhân Tông mới “ngủ dậy” đã “ngỏ song mây”. Đâu phải thi nhân hướng về ngoại cảnh mà cảnh đã vốn trong tâm người rồi, chỉ cần mở mắt là bắt gặp. Từng phút từng giây, cảnh vật chuyển dịch theo vòng tuân hoàn của vũ trụ, chỉ có lòng người là an tịnh tại tâm. Thế nên, qua hai câu thơ thi nhân ngỡ ngàng về sự chậm trễ của mình. Mới hay, Trần Nhân Tông sống hết mình trong từng khoảnh khắc, vô vi nhưng thức ngộ từng sát-na đang trôi đi, tĩnh mà lại động, có mà như không có, vội vàng mà lại điềm nhiên trong u tịch thời gian.

Thi nhân đã nhìn dòng thời gian đang chuyển luân bằng cái tâm của Phật. Cảnh động mà tâm không động. Tâm như không động nhưng đang chuyển dịch mãnh liệt. Bởi thế, cái thần của bài thơ, cái hồn của vần thơ được cô động ở hai câu tiếp theo. Nhà thơ thật trẻ trung và hồn nhiên khi nhìn thấy ngoại cảnh, lòng đến xao xuyến, rung động.

“Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi”

(Song song đôi bướm trắng
Phất phới sấn hoa bay)

Xuân về trăm hoa đua nở, phô sắc khoe hương. Nói đến hoa phải nói đến ong bướm. Hai nét vẽ gợi cảm, sống động đặc tả tín hiệu mùa xuân, vẻ đẹp thơ mộng mùa xuân. Hoa xuân như phô sắc khoe hương đợi chờ. Hoa không được đặc tả, ý như chưa cần phô trương cũng đã đủ làm con người ta rạo rực trước hương xuân đang đến. Bướm trắng một đôi, bay “sấn ” tới, đi tháng tới. xông tới khóm hoa… “Phách phách” là từ láy, gợi tả nhịp cảnh vồ rối rít của đôi cánh bướm. Chữ ”sấn” là nhãn tự diễn tả thật sinh động và tế nhị vẻ đẹp nên thơ, sức sống mãnh liệt của thiên nhiên tạo vật buổi xuân về. Bằng cái nhìn non tơ, thi nhân đã cảm và miêu tả một cách thi vị, đáng yêu cái sắc xuân, xuân tình mơn mởn qua cánh bướm đang rối rít bay sấn tới những đoá hoa xuân.

Phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông ta thấy nghệ thuật miêu tả tinh tế và điêu luyện. Trên nền hoa xuân rực rỡ muôn hồng nghìn tía nổi lên một đôi bươm bướm trắng. Trên gam màu rực rỡ, lộng lẫy là hai điểm trắng, gợi lên sự thanh khiết, trang nhã, thanh tân. Câu thơ tả cảnh mà ngụ tình, cho thấy con người và thiên nhiên giao hòa, công hưởng.

Câu thơ của Trần Nhân Tông đẹp như bức tranh xuân bằng thuốc nước của một danh họa. Màu trắng của cánh bướm nổi bật trên màu hoa là nghệ thuật “điểm nhấn” trong thi pháp cổ. Nó làm ta liên tưởng đến những vần thơ cổ tuyệt bút:

“Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng cò trắng vút trời xanh “
(Thơ Đỗ Phủ – Tản Đà dịch)

“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông đậm đà màu sắc đồng quê. Có khóm liễu xanh cùng tiếng chim hót: “Chim hót véo von liễu nở đầy – Thềm hoa chiều ảnh bóng “mây bay” (Cảnh mùa xuân) có cánh cò trên đồng lúa và âm vang tiếng sáo của mục đồng; “Theo lời kèn mục trâu vé hết – Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng” (Thiên Trường vãn vọng ). Có ánh trăng lung linh trên chùm hoa mộc ngậm sương khuya:

“Bên song đèn rụng, sách đẩy giường,
Khi lạnh, đêm thu, đươm gioi sương.
Thức dậy tiếng chày đá lặng ngắt,
Trên chùm hoa mộc, nguyệt lổng gương ”
( Nguyệt – thơ dịch)

Đó là những vần thơ cảm hứng trữ tình đặc sắc biểu lộ một hồn thơ tràn đầy tình yêu thiên nhiên, yêu tạo vật và yêu đời tha thiết.

Đến đây, ta chợt giật mình, hai con bướm trắng có thật là hai con bướm trắng hay đó chỉ là ảo ảnh, là tâm cảnh mà thôi. Rõ ràng, trong câu thơ“Nhất song bạch hồ điệp” (một đôi bướm trắng) đang hướng đến khóm hoa, cánh bướm phất phới trong không trung. Thế nhưng, bởi thi nhân đã nhắc đến mùa xuân mà trong lòng đã hiện hình cánh bướm vậy. Bởi quá rộn ràng mà chỉ trong khoảnh khắc, mùa xuân đã tràn ngập ở trong lòng. Cánh bướm tượng trưng cho sự mờ ảo, là bóng hồn bay lên hòa nhập vào đại vũ trụ hoan ca. Thể như lão Trang Tử một ngày  nọ nhìn cánh bướm nà không thể biết mình là bướm hay bướm là mình vậy.

Phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông cho ta cảm nhân đây là một bài thơ xuân tuyệt hay. Cảnh xuân và tình xuân hoà quyện. Nghệ thuật miêu tả chấm phá, Mỗi đường nét, mỗi màu sắc của hoa, của bướm rất tươi tắn, nhẹ nhàng và thanh thoát. Tả cảnh xuân chớm đến cũng là ngợi ca vẻ đẹp đất nước thanh bình. Yêu mùa xuân cũng là yêu quê hương đất nước. Tâm hồn ông vua – thi sĩ trẻ và đẹp mãi với mùa xuân, với giang sơn Đại Việt. Mà có lẽ, những vị vua trước đây cũng như sau này, do quá mải mê danh vọng, quyền hành, hoặc bỏ bê việc nước chỉ để ăn chơi sa đọa, đua đòi hoa thơm của lạ, xây dựng nhiều cung điện, đền đài để thoả thích “đi chơi ngắm cảnh đẹp”.

Kết bài: Phân tích bài thơ Xuân hiếu của Trần Nhân Tông

Thơ là sự giãi bày, là tiếng nói đồng điệu trong không gian và thời gian. Bài thơ Xuân Hiể́u, viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã đi suốt một hành trình trên 7 thế kỷ. Đọc nó, ta cảm thấy tâm hồn mình như được hòa nhập, gần gũi với người xưa hơn.

Nghị luận xã hội vượt lên số phận

Đề bài: Nỗi tuyệt vọng đứng trước đường cùng, ai trong cuộc đời chẳng phải một vài lần đối diện? Để thoát khỏi nó, mỗi người có một sự lựa chọn khác nhau: Có người thì buông xuôi phó mặc cho số phận đẩy đưa, có người lại tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài…, song thực tế cho thấy, những ai biết vượt qua thử thạch bằng chính nghị lực và bản lĩnh của mình đều gặt hái được thành công. Người xưa dạy rằng:” Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”
Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn về chủ đề ” vượt lên số phận”

Bài văn mẫu nghị luận xã hội ” Vượt lên số phận”

Trong ba vạn sau nghìn ngày của cuộc đời chúng ta, không chỉ có những ngày trời quang mấy tạnh mà một nửa là mấy mù u ám, mưa dầm gió bấc. Đường đời mà chúng ta đi, có thể bằng phẳng thênh thang, có thể sông ngắn núi trở, không thuyền khống bến sang sông.

Sự thực đó chúng ta không thể thay đổi, nhưng chúng ta có thể thay đổi lòng mình. Những lúc như thế chung ta hãy tự biến lòng mình thành chiếc thuyền qua sông. Có biết bao tấm gương vượt lên số phận khiến chúng ta không khỏi xúc động. Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí bị liệt hai tay từ khi lên 4 tuổi. Năm 7 tuổi, ông đã quyết tâm tập viết bằng hai chân, dù khó khăn đến mấy, ông cũng miệt mài tập viết ngày đêm, cuối cùng ông đã làm được mọi việc bằng đôi chân kì diệu của mình. Với đôi chân ấy, ông đã viết sách, làm thơ, dạy học… Cố thủ tưởng Phạm Văn Đồng đã nói:” Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí là đại diện cho sự phấn đấu phi thường và kì diệu, là tấm gương sáng cho các bạn trẻ hôm nay, nhất là những người khuyết tật noi theo.”

Nghị luận xã hội vượt lên số phận

Khi sắp lên học tiến sĩ, Stepphen William Hawking bị chứng bại liệt thần kinh không vận động nói năng được, ông mơ thấy mình bị xử tử, sau khi tỉnh giấc, bỗng nhiên ông ý thức được, nếu được xá tôi, ông sẽ làm được rất nhiều điều có ý nghĩa. Từ đó ông như sống lại sau khi cứ ngỡ rằng tất cả tương lại của mình đã chết, ông kích hoạt lại đời mình, gấp con thuyền tư tưởng, bay thẳng vào vũ trụ huyền bí, thám hiểm hệ mặt trời, hố đen vũ trụ… Trong khổ nạn, sự thay đổi tư tưởng, suy nghĩ, quan niệm là phao cứu sinh, sẽ cứu lại sự sống, đưa thuyền đời vào chốn bình yên.

Có thể bạn và tôi không gặp đại tai, đại nạn như họ, thế nhưng chắc gì chúng ta đã thực sự thoát khỏi cơn bão đi qua, chắc gì ngày mai bầu trời không còn mưa gió? Cuộc đời mấy ai học được chũ “Ngờ”, đại nạn thường bất ngờ giáng xuống đầu khiến người ta tối tắm mặt mũi, mất hết tinh thần, khi đó chúng ta có lấy tơ sầu muôn mối cũng không kết thành dây cáp vượt sông, kết vạn mảnh lòng tan vỡ cũng khó ghép thành thuyền vượt sóng gió. Nỗi tuyệt vọng đứng trước đường cùng, ai sống trong cuộc đời này mà chẳng phải một vài lần đối diện?

Có người tự biết thay đổi lòng mình, thay đổi quan niệm, gấp bản năng sinh tồn thành thuyền vượt sóng, tự đưa mình thoát khỏi vực sâu, có người thay đổi lòng mình, lấy những ham muốn mới kết thành dây cáp, tự giúp mình vượt ải gian lao.