Video hướng dẫn kỹ năng sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm

Thạc sĩ Nguyễn Bá Tuấn – Giảng viên trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội đã chia sẻ bài giảng thú vị giúp học sinh đang ôn thi THPT Quốc Gia hiểu rõ hơn về sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm để giải nhanh các bài toán trắc nghiệm trong đề thi đánh giá năng lực.

Giải đáp 50 câu hỏi môn Toán trong thời gian 80 phút (thời gian trung bình 1.6 phút/câu) là vấn đề khó khăn mà đa số thí sinh dự thi bài thi đánh giá năng lực gặp phải. Máy tính bỏ túi là vật dụng không thể thiếu khi thí sinh làm bài môn Toán và đặc biệt là cần thiết khi làm bài thi đánh giá năng lực.

ky-nang-su-dung-may-tinh-bo-tui-trong-bai-thi-trac-nghiem

Với hơn 10 năm kinh nghiệm giảng dạy với nhiều học sinh đỗ đạt cao, thầy giáo Nguyễn Bá Tuấn có phong cách giảng dạy chú trọng tới phát triển tư duy của học sinh, giúp người học vận dụng các kiến thức, phương pháp tư duy đã học để áp dụng sang các bài toán khác nhau.

Kỹ năng sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm phần 1

Kỹ năng sử dụng máy tính bỏ túi trong giải toán trắc nghiệm phần 2

3 cách tìm đáp án cho câu hỏi tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa trong tiếng Anh

Cô giáo Nguyễn Thanh Hương sẽ hướng dẫn cho các em học sinh biết 3 cách tìm đáp án cho câu hỏi tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa trong tiếng Anh.

Nếu biết nghĩa của từ gạch chân và 4 đáp án, học sinh dễ dàng tìm được từ đồng nghĩa/trái nghĩa. Nếu không biết nghĩa của từ, hãy áp dụng 3 cách tìm đáp án theo hướng dẫn dưới đây.
Từ đồng nghĩa/trái nghĩa thường chiếm khoảng 5 câu trong đề thi. Từ được gạch chân trong dạng bài này đa phần là từ mới, từ khó hoặc là cụm Idiom hoặc Phrasal Verb mang tính thách thức. Với dạng bài này, không biết nghĩa của từ được gạch chân là “chuyện bình thường ở huyện”. Vì thế, đừng quá lo lắng khi gặp một từ lạ hoắc mà mình chưa gặp bao giờ.

Học sinh cũng cần nhớ rằng câu dài không có nghĩa là câu khó. Ngược lại một điều dễ thấy là ngoại trừ từ được gạch chân, hầu hết từ còn lại rất gần gũi, dễ hiểu nghĩa, được thiết kế để hỗ trợ thêm thông tin cho việc đoán nghĩa của từ khóa. Các từ gạch chân luôn được đặt trong một câu, một văn cảnh nhất định, mà khi phân tích ngữ cảnh ấy ta hoàn toàn có manh mối để đoán ra nghĩa của từ.

3-cach-tim-tu-dong-nghia-trai-nghia-trong-tieng-anh
Quan sát kỹ các từ quan trọng trong câu để đoán nghĩa của từ gạch chân

Ví dụ 1: Tìm từ đồng nghĩa

His greatest triumph was undoubtedly his achievement in training Laos ladies to win the All Ireland senior title three years ago.

A. failure B. victory C. contribution D. devotion

Nếu như không biết triumph là “chiến thắng” thì dựa vào những từ vựng lân cận, học sinh vẫn có thể đoán nghĩa được nhờ các thông tin quan trọng bài đưa. Cụ thể:

– Tính từ greatest (vĩ đại nhất, to lớn nhẩt) đi ngay trước triumph thể hiện sự tích cực của danh từ triumph.

– His greatest triumph was… chứng tỏ thông tin đằng sau chính là phần giải thích trực tiếp cho từ khóa triumph.

Danh từ achievement (thành tích) và động từ win: chiến thắng có gợi ra điều gì không? Có chứ, chúng đều ám chỉ sự “chiến thắng” của danh từ triumph đang được hỏi , và đáp án chọn là B. victory có nghĩa tương tự. Các phương án khác: A. failure: thất bại, C. contribution: sự đóng góp. D. devotion: sự cống hiến.

Ví dụ 2: Tìm từ đồng nghĩa (Đề thi 2015)

She simply took it for granted that the check was good and did not ask him any questions about it.

A. look it over B. accepted it without investigation C. objected to it D. permitted it

Cụm Idiom take it for granted (nghĩa là coi một điều gì đó là lẽ tất nhiên) có lẽ sẽ khó hiểu đối với nhiều học sinh có ít vốn kiến thức về Idioms. Tuy nhiên , học sinh có thể đoán được nghĩa nhờ các gợi ý trong bài: the check was good and did not ask him any questions about it sẽ trực tiếp gợi ý cho Idiom mà chúng ta đang tìm nghĩa.

“Cô ấy đơn giản là took it for granted rằng tấm séc là đúng và không hỏi anh ta bất cứ câu hỏi nào về nó” sẽ đưa chúng ta đi tới đáp án B. accepted it without investigation (nghĩa là đồng ý mà không tìm hiểu/ điều tra gì)

Ví dụ 3: Tìm từ đồng nghĩa

Suddenly, it began to rain heavily, so all the summer hikers got drenched all over.

A. very tired B. refreshed C. completely wet D. cleansed

“Suddenly, it began to rain heavily” đột nhiên trời đổ mưa to nên những người đi bộ bị “drenched” không khó để suy luận là họ bị C. completely wet (ướt hết).

Sử dụng kiến thức của bản thân để đoán nghĩa từ

Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa

We have to husband our resources to make sure we make it through these hard times.

A. spend B. manage C. use up D. marry

Husband thường được biết đến nhiều với nghĩa là chồng (danh từ), ít người biết nó còn có thể là động từ với nghĩa “tiết kiệm, dè xẻn”. Tuy nhiên ở đây chúng ta hoàn toàn có thể đoán nghĩa qua kiến thức của bản thân. Trong thời kì hard times (khoảng thời gian khó khăn) chúng ta phải husband các nguồn tài nguyên, không khó để đoán được là chúng ta phải “tiết kiệm” tài nguyên, và chọn C. use up: sử dụng hết, làm phương án đối nghĩa với husband

I find it hard to work at home because there are too many distractions.

A. attention B. unawareness C. unconcern D. carelessness.

Tôi thấy khó mà làm việc ở nhà được bởi vì có quá nhiều distractions. Qua kinh nghiệm của bản thân chúng ta cũng dễ hiểu được rằng ở nhà có rất nhiều việc có thể gây xao nhãng cho công việc : TV, điện thoại, tiếng ồn… để khẳng định cho những suy đoán về distraction (sự làm sao nhãng) và chọn A. attention (sự tập trung).

Một số mẹo để chọn đáp án

Nếu không thể suy luận được nghĩa của từ gạch chân để chọn ra đáp án, học sinh có thể áp dụng mẹo nhỏ sau để suy đoán đáp án đúng/gần đúng nhất.

– Với bài tìm từ đối nghĩa, nếu quan sát thấy có 1 từ trong 4 phương án đã cho khác nghĩa với cả 3 phương án còn lại thì rất có thể đó là từ cần chọn. Rất có thể thôi, bởi vì đây chỉ là một phép suy đoán.

Televisions are a standard feature in most hotel rooms.

A. abnormal B. common C. customary D. typical

Chọn A. abnormal (bất thường) vì đối nghĩa với cả 3 phương án B. common (phổ biến), C. customary (thông lệ), D. typical (đặc trưng, tiêu biểu) và đối nghĩa luôn với từ gạch chân standard (tiêu chuẩn).

– Nếu từ đã cho là 1 từ khó thì đáp án thường rơi vào những từ dễ hiểu chứ không hay rơi vào các phương án là các từ mới khác.

Tóm lại, với dạng bài từ đồng nghĩa/trái nghĩa, chúng ta có thể tìm ra đáp án đúng theo 2 cách sau:

Cách 1: Sử dụng các gợi ý trong bài để đoán nghĩa từ cần tìm sau đó so sánh nghĩa mình đoán với các phương án đã cho rồi lựa chọn sát nghĩa hoặc đối nghĩa theo đề bài.

Cách 2: Trực tiếp thay thế các phương án đã cho lên phần gạch chân, thấy cái nào logic nhất thì chọn.

Một lưu ý nhỏ là rất nhiều học sinh không đọc kỹ đề bài hoặc không để ý nên đã chọn phương án đồng nghĩa với từ được gạch chân trong khi đề bài yêu cầu tìm từ trái nghĩa. Đây là trường hợp mất điểm đáng tiếc các em nên cẩn thận để tránh.

Kỹ năng ôn thi và làm bài thi THPT quốc gia môn Toán

Thạc sĩ Kiều Văn Vượng – Giáo viên Toán trường THPT Đoàn Thị Điểm Hà Nội sẽ hướng dẫn các em thí sinh kỹ năng làm bài thi THPT Quốc Gia Môn Toán.

Môn Toán thi theo hình thức tự luận nên ngoài việc vận dụng kiến thức để tư duy tìm lời giải, học sinh cũng cần rèn luyện cách trình bày. Mục đích là có thể lấy được điểm tối đa của các câu, ý mình có thể giải được.

Trong kỳ thi THPT quốc gia 2016, Toán là một trong 4 môn bắt buộc. Đây cũng là môn được nhiều học sinh lựa chọn để tổ hợp thành nhóm xét tuyển vào các trường đại học và cao đẳng. Vì vậy, trong khoảng hai tháng trước ngày thi, học sinh cần lên kế hoạch ôn tập hiệu quả.

ky-nang-on-thi-va-lam-bai-thi-thpt-quoc-gia-mon-toan

Muốn đạt được điểm cao ngoài việc phải nắm kiến thức cơ bản thì học sinh cần có khả năng giải quyết các bài mang tính phân loại. Dưới đây là một số kinh nghiệm ôn thi môn Toán tôi đúc kết trong thời gian giảng dạy học sinh cuối cấp:

Nội dung ôn tập cần bám sát với cấu trúc đề thi theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Ôn tập đầy đủ, bao quát các phần kiến thức, từ cơ bản đến nâng cao. Đi đôi với ôn tập lý thuyết là các ví dụ chọn lọc minh họa để có hiểu kiến thức và biết cách vận dụng, đồng thời có hệ thống bài tập tự làm nhằm củng cố lý thuyết, rèn kỹ năng làm bài cho bản thân.

Môn Toán thi theo hình thức tự luận nên ngoài việc vận dụng kiến thức để tư duy tìm lời giải cho bài, học sinh cũng cần rèn luyện cách trình bày. Mục đích là có thể lấy được điểm tối đa của các câu, ý mình có thể giải được.

Đây là giai đoạn nước rút do vậy học sinh nên xem lại kiến thức tổng hợp đã nắm được. Đối với môn Toán, việc giải quyết các bài toán yêu cầu các bạn phải nắm được các kiến thức cũ của những năm trước. Điển hình là bài toán khảo sát, các kiến thức cũ cần nắm được như đạo hàm và giới hạn của chương trình lớp 11. Hay như bài hình học phẳng cần có kiến thức cũ của lớp 10 và lớp 9.

Học sinh cần cụ thể về thời gian ôn tập trên mỗi chủ đề kiến thức. Phần kiến thức nào quan trọng, hay xuất hiện trong đề thi và dễ lấy được điểm thì dành thời gian để ôn tập nhiều hơn. Tất cả chủ đề đều được ôn tập chứ học sinh không “học tủ”, bên cạnh đó cũng không ôn tập một cách tràn lan.

Với cấu trúc đề thi như hiện tại có khoảng 60-70% là mức độ trung bình nên có thể ôn tập phần đó tương đối dễ. Rất nhiều phần kiến thức đó nằm trong chương trình lớp 12, do vậy đọc và xem lại tất cả kiến thức cũng không khó để đạt điểm 6-7.

Các em cần thường xuyên làm đề thi thử tổng hợp để rèn luyện, trau dồi kiến thức cũng như kỹ năng làm bài. Điều này cũng rất cần vì có rất nhiều học sinh khi ôn tập từng chủ đề kiến thức riêng lẻ thì nhận thức rất nhanh, vận dụng vào giải bài tập rất tốt, nhưng lại nhanh quên các kiến thức đã ôn tập trước đó vì lâu không vận dụng đến. Thông qua bài thi thử, học sinh có thể nhờ giáo viên chấm để có thể phát hiện những lỗ hổng kiến thức nhằm kịp thời bổ sung, cũng như lỗi về trình bày để kịp thời được giáo viên giúp đỡ sửa chữa.

Bên cạnh đó, các em phải đảm bảo sức khỏe và tinh thần để có thể ôn tập đạt kết quả tốt nhất, phân chia thời gian học tập xen với nghỉ ngơi một cách hợp lý, ăn uống đầy đủ dưỡng chất. Hãy tự tin vào bản thân, lạc quan và chăm chỉ học tập. Thời gian vẫn còn để bạn ôn lại những gì mình còn thiếu hụt.

Những chú ý khi làm bài thi

Khi nhận đề thi, học sinh nên dành thời gian để đọc đề khoảng 5 phút (bằng thời gian từ lúc phát đề đến lúc tính giờ làm bài), ghi chú những dạng bài quen thuộc hay đã biết định hướng làm bài.

Nên làm những câu dễ nhất đầu tiên. Thứ nhất là để lấy chắc điểm phần đó. Thứ hai là giải tỏa tâm lý vì sau khi nhận đề hầu như tất cả thí sinh đều hồi hộp xen với lo lắng không biết đề khó dễ thế nào. Khi làm được những câu đầu tiên một cách trôi chảy có thể tạo tâm lý hưng phấn để làm các câu tiếp theo.

Khi làm bài không được có tâm lý chủ quan, kể cả bài dễ nhất. Đối với môn Toán, nhiều bạn hay “tặc lưỡi” khi gặp những bài dễ rồi dẫn đến không rèn luyện được tính cẩn thận, đánh mất điểm. Đôi khi, những bài khó là sự tổng hợp của các bước thông qua các bài dễ mà mấu chốt là ý tưởng để giải quyết nó.

Có thể làm bài không theo thứ tự trong đề thi. Mặc dù theo thông tin về cách ra đề thi hiện nay, các câu được sắp xếp từ dễ đến khó nhưng khi làm bài không nhất thiết phải tuân theo thứ tự đó. Học sinh phải xác định các câu “dễ” đối với mình và làm trước. Nên đánh dấu các câu mà mình chưa làm được hay đã bỏ qua để quay lại khi đã xong các câu khác.

Nên phân bố thời gian hợp lý. Học sinh không nên lao vào làm câu khó trước vì rất dễ mất nhiều thời gian mà chưa chắc đã làm được. Việc nháp bài và sử dụng máy tính hỗ trợ tính toán cũng rất quan trọng. Nháp bài thì không cần đẹp, sạch, tránh mất nhiều thời gian vì viết nháp hay vẽ nháp là để tìm hướng giải bài hoặc trình bày vắn tắt. Dùng máy tính hỗ trợ để đỡ mất thời gian nhẩm hay tính toán nhưng phải nhập cho máy tính đúng dữ kiện thì máy mới đưa ra kết quả chính xác.

Nên trình bày bài cẩn thận, lời giải cần rõ ràng, mạch lạc và lôgic. Chữ viết cần dễ đọc, sạch sẽ. Không nên dùng bút xóa khi làm bài thi, nếu sai ta chỉ cần gạch đi và viết lại. Kết thúc mỗi câu thường phải có kết luận của câu đó.

Thang điểm chấm được chia nhỏ đến 0,25 nên nếu có bài nào đó ta chưa giải quyết triệt để được thì cứ trình bày phần đã giải quyết được vào bài vì theo đáp án chấm có thể đến bước đó là đã được một phần điểm. Thêm được 0,25 điểm là có thể tăng thêm cơ hội cho bản thân.

Không nên nộp bài sớm trước khi hết giờ. Hãy tận dụng hết thời gian làm bài để làm hết các câu có thể. Thậm chí nếu là học sinh trung bình khá, có những câu không thể làm (vì đề thi có tính phân loại rất cao) thì có thể dành thời gian còn lại để kiểm tra lại tính đúng đắn của các bài đã làm được.

Ôn thi THPT Quốc Gia môn Lịch Sử: Nên và không nên

Để ôn tập tốt và thi đạt kết quả cao môn Lịch sử, các em học sinh cần lưu ý một số điểm sau.

Trong kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm nay, mỗi phần thi đều lồng ghép các câu hỏi mở, khuyến khích tư duy và vận dụng thực tế ở học sinh. Với những môn xã hội, vốn bị định kiến là các môn học thuộc như các môn Lịch sử hay Địa lý thì đây là một sự thay đổi lớn. Suy nghĩ, cũng như những băn khoăn của các em học sinh về đề thi và những vấn đề cần lưu ý trong quá trình ôn tập bộ môn Lịch sử đã được đề cập trong phóng sự trên.

Với những thay đổi trong cách ra đề thi và tiêu chí chấm thi trong cuộc thi tốt nghiệp THPT quốc gia 2015, các em cần lưu ý:

Nên:

– Hệ thống kiến thức.
– Phân bổ thời gian hợp lý.
– Liên hệ thực tiễn với các sự kiện trong và ngoài nước.
– Lập đề cương.

Không nên:

– Sáng tác lịch sử, sự kiện.
– Trình bày sơ sài.
– Trả lời quá tỉ mỉ cho một câu hỏi.
– Diễn đạt chung chung.
– Lạm dụng diễn đạt các từ ngữ văn học để minh họa cho nội dung lịch sử dễ bị lan man và lạc đề

Đề thi minh họa – Kỳ thi THPT quốc gia 2015
Môn: Lịch sử
Thời gian làm bài: 180 phút.

Câu 1 (3,0 điểm)
Nêu bản chất và biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hóa. Phát biểu ý kiến về toàn cầu hóa tác động đến Việt Nam.
Câu 2 (2,0 điểm)
Trình bày nội dung Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Nguyễn Ái Quốc có vai trò như thế nào đối với thành công của Hội nghị?
Câu 3 (3,0 điểm)
Khái quát những khó khăn của nước Việt Nam trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám và nhận xét về khó khăn lớn nhất.
Câu 4 (2,0 điểm)
So sánh chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở Việt Nam.

Lập dàn ý bài văn nghị luận bằng bản đồ tư duy

Để lập dàn ý một bài văn nghị luận hoàn chỉnh, người viết cần được rèn luyện nhiều kiểu kĩ năng khác nhau. Trong đó, phải xác lập được hệ thống những phương pháp ôn tập hiệu quả. Dưới đây, là phương pháp sử dụng bản đồ tư duy để lập dàn ý một bài văn nghị luận mà các em học sinh cần tham khảo: Lập dàn ý bằng bản đồ tư duy sẽ giúp các em học sinh rèn luyện được kĩ năng làm văn tốt. Phương pháp này cũng giúp cho các bạn học sinh hoàn thiện các kĩ năng tư duy logic như: phân tích – tổng hợp, so sánh đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa vv …

1. Đặt vấn đề

Văn bản là đơn vị giao tiếp đích thực của con người bởi tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. Tạo lập được một văn bản theo nghĩa như vậy đòi hỏi người viết phải nắm vững, làm chủ cũng như huy động được nhiều yếu tố khác nhau, từ vốn hiểu biết đến khả năng vận hành ngôn ngữ. Chương trình Ngữ văn hiện hành được xây dựng dựa trên hai trục đồng quy là Đọc hiểu và Làm văn. Ở trục Làm văn, học sinh được tổ chức chiếm lĩnh nhiều nội dung lí thuyết và rèn luyện kĩ năng khác nhau nhằm xây dựng được đa dạng các loại văn bản.

lap-dan-y-bai-van-nghi-luan-bang-ban-do-tu-duy

Trong đó, kĩ năng lập ý đóng vai trò quyết định khi tiến hành xây dựng các loại văn bản ấy. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hình thành và hoàn thiện kĩ năng này cho học sinh, giúp các em phát triển năng lực tư duy logic và hiện thực hóa hệ thống quan điểm của mình. Ứng dụng bản đồ tư duy ở đây có thể xem là một giải pháp có thể mang đến hiệu quả mong đợi.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Ý và lập ý là gì?

 

Ý là những đơn vị tạo nên nội dung cơ bản của một bài viết. Có thể nói mỗi loại văn bản đều có những yếu tố nội dung cấu thành đặc trưng tương ứng. Chẳng hạn, đối với một văn bản nghị luận thì các yếu tố nội dung cấu thành văn bản chính là các ý kiến, lí lẽ. Nó thường là những phán đoán, nhận xét khái quát của người viết về nội dung nhằm đáp ứng yêu cầu của vấn đề cần nghị luận; thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá của người viết với vấn đề được nêu ra. Ý trong bài văn nghị luận thường được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau và có tính khả phân. Điều này có nghĩa là dựa vào tính chất của ý mà người viết xây dựng thành các cấp bậc ý hàm chứa độ lớn nội dung khác nhau. Như vậy, lập ý là hoạt động tìm kiếm ý, xác định đặc điểm ý để phân chia và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí, phù hợp với logic nhận thức của con người.

2.2. Xác định “chìa khóa” quan hệ giữa “lập ý” và “bản đồ tư duy”

Tony Buzan – “Cha đẻ” của khái niệm “bản đồ tư duy” – khẳng định rằng kiểu ghi chép truyền thống theo kiểu tuyến tính đã mang lại những hiệu quả to lớn cho con người ở nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, dựa trên lí thuyết về tiếp nhận của con người, nó cũng đem đến những bất lợi khác nhau đối với người sử dụng. Chẳng hạn: các từ khoá nêu bật vấn đề bị chìm khuất với những yếu tố ngôn từ không thật cần thiết khác; lãng phí thời gian hơn vào việc thiết lập ý tưởng bằng câu có ngữ pháp đầy đủ; mất nhiều thì giờ để ghi nhớ, sắp xếp ý tưởng; khó tìm ra ngay mối liên hệ giữa các ý tưởng; dễ rơi vào tình trạng chán nản, thất vọng do giữ mãi trạng thái phải liệt kê mà không biết điểm dừng;…

Xuất phát từ việc so sánh với các vấn đề còn tồn tại nêu trên, Tony Buzan đã gợi ý một hình thức ghi chép “hiếm thấy hơn” gọi là “bản đồ tư duy” – một hình thức ghi chép phi tuyến tính dưới dạng biểu đồ mở rộng; sử dụng màu sắc, đường nét và hình ảnh để biểu thị, phát triển hay đào sâu một ý tưởng nào đó. Nó phản ánh quá trình tư duy diễn ra bên trong đầu óc con người; có tác dụng hệ thống hoá các nội dung tri thức, thúc đẩy hoạt động ghi nhớ và phát huy tiềm năng sáng tạo vô biên. Xét theo nghĩa như vậy, bản đồ tư duy không chỉ là sản phẩm của quá trình tư duy mà hơn thế, còn phản ánh chính xác sự diễn tiến của tư duy. Nó vừa kết quả, vừa là quá trình. Giữa việc xây dựng một bản đồ tư duy và hoạt động lập ý có mối dây liên hệ nhất định. Bảng so sánh sau thể hiện quan hệ ấy

Bước Lập ý Xây dựng bản đồ tư duy
1 Phân tích đề bài, tìm chủ đề cho bài viết Xác định từ khóa/ hình ảnh thể hiện ý tưởng trung tâm của bản đồ
2 Tìm ý, xác định các nội dung có liên quan đến chủ đề bài viết Từ ý tưởng trung tâm, triển khai ý tưởng này thành các nhánh. Mỗi nhánh thể hiện một khía cạnh, vấn đề cụ thể hóa cho trung tâm điểm.
3 Lựa chọn và sắp xếp ý tìm được theo một trật tự logic nhất định Tổ chức lại bản đồ tư duy bằng cách lược bỏ bớt những yếu tố không cần thiết, đánh dấu thứ tự các nhánh theo logic nhất định
4 Lập dàn ý và hoàn thiện văn bản (Thực chất, đây là bước mở đầu cho một kĩ năng khác nhưng vẫn cần nêu ở đây để thấy tính kết nối của toàn bộ quá trình làm văn!) Hoàn thiện bản đồ tư duy

Qua đối chiếu, có thể thấy đơn vị “ý” trong văn bản tương đương với “từ khóa” hoặc “từ gốc” theo ngôn ngữ bản đồ tư duy; thao tác lập ý cho bài làm văn tương ứng với sự hình thành các nhánh xuất phát từ từ khóa trong bản đồ. Như vậy, hoạt động tìm ý, lập ý và hoạt động tìm từ khóa, nhánh lan tỏa đều có bản chất là các hoạt động tư duy logic. Điểm khác biệt cơ bản chỉ là vấn đề ngôn ngữ và cách thức biểu đạt kết quả tư duy. Đây được xem như cơ sở quan trọng, “chìa khóa” để xác lập khả năng dạy học lập ý bằng bản đồ tư duy.

2.3. Phương pháp dạy học lập ý bài làm văn nghị luận bằng bản đồ tư duy

Một cách chung nhất, dạy học lập ý bài làm văn nghị luận đòi hỏi phải có sự tham gia hoạt động của cả giáo viên và học sinh.Về phía giáo viên, hoạt động quan trọng và chủ yếu nhất là trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về cách thức tìm ý, lập ý và kĩ năng lập bản đồ tư duy, minh họa cho học sinh bằng một số ví dụ đơn giản. Điều này giống như việc giáo viên dẫn trước nền móng và dựng lên giàn giáo để trên đó, học sinh xây ngôi nhà của mình. Về phía học sinh, sau khi được trang bị những kiến thức cơ bản về việc phát hiện ý, cách thức tổ chức ý, vẽ bản đồ tư duy… học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên có thể tự xây dựng những bản đồ lập ý. Có thể hiện thực hóa quy trình hướng dẫn học sinh lập ý cho bài văn nghị luận bằng bản đồ tư duy theo một ví dụ cụ thể là đề bài sau đây: “Nhà thơ Tố Hữu viết: «Ôi, sống đẹp là thế nào hỡi bạn?» (Một khúc ca xuân). Quan niệm của anh (chị) về vấn đề trên”.

Bước 1. Phân tích đề bài Dựa theo những kiến thức đã học về kiểu bài nghị luận, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích yêu cầu của đề bài trên hai tiêu chí: nội dung và hình thức. Trong đó, trả lời các câu hỏi cụ thể như đây là kiểu bài gì? Vấn đề cơ bản của bài viết? Bài viết cần đáp ứng những yêu cầu gì về cách thức sử dụng ngôn ngữ và tổ chức văn bản? có thể áp dụng những thao tác lập luận nào để bài viết sinh động, thuyết phục?… Theo đó, bước Phân tích đề bài giúp người viết có cái nhìn khái quát về các yêu cầu cần thực hiện.

Bước 2. Hướng dẫn tìm ý Về bản chất, tìm ý gắn liền với việc người viết xác định những luận đề, luận điểm cho bài viết của mình. Ở đây, mới dừng lại ở hoạt động “tìm” chứ chưa đòi hỏi người viết phải sắp xếp thành trật tự. Trong bước này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm ý thông qua các thao tác nhỏ cụ thể như sau:

Nêu vấn đề Nội dung cần đạt Xây dựng bản đồ Minh họa
Chủ đề bài viết là gì? Sống đẹp Đưa vào làm ý tưởng trung tâm của bản đồ, ghi ra giữa trang giấy lap-dan-y-van-nghi-luan-song-dep
Những vấn đề nào có thể triển khai xung quanh khái niệm “sống đẹp?”àGợi ý học sinh tự liệt kê trong tư duy. – Sống đẹp là gì?– Sống đẹp có cần thiết không? Vì sao? – Sống đẹp được biểu hiện cụ thể bằng những giá trị như thế nào? – Có những điều gì cần tránh để trở thành người sống đẹp? – Có ví dụ nào trong thực tiễn không?[…] – Lấy từ khóa ngắn gọn cho mỗi vấn đề tìm được, đưa mỗi từ khóa ấy về một nhánh với xuất phát điểm là ý tưởng trung tâm. Khuyến khích học sinh ghi ra tối đa các từ khóa xuất hiện trong suy nghĩ.- Mỗi nhánh từ khóa có thể vẽ bằng một màu sắc khác nhau cho dễ nhận diện. – Có thể vẽ theo một chiều trái – phải hoặc phải – trái. cach-lap-dan-y-bai-van-nghi-luan-bang-ban-do-tu-duy
Từ mỗi ý lớn tìm được, hãy phát triển thành các ý nhỏ cụ thể hơn, trả lời cho từng câu hỏi đã có? – Sống đẹp là gì?+ ý nghĩa câu thơ + biểu hiện đẹp của cuộc sống con người + sống có lí tưởng, hoài bão, biết hi sinh […] – Biểu hiện: + có khát vọng, lí tưởng + có trí tuệ sáng suốt, rộng mở đón nhận hiểu biết […] – Tiếp tục coi mỗi từ khóa ở các nhánh là điểm trung tâm bậc 2, vẽ tiếp các nhánh nhỏ hơn, trên mỗi nhánh nhỏ hơn ghi các nội dung cụ thể, chi tiết.- Liệt kê tất cả các nội dung cụ thể minh họa cho vấn đề ở mỗi nhánh. – Ghi tóm lược nội dung ý, tránh dài dòng. (Hình 1)
Trong bước này, có thể nhận thấy bản đồ tư duy khắc phục nhược điểm tuyến tính và hạn chế về độ mở của kiểu liệt kê tuyến tính. Với mỗi một ý tưởng nảy sinh, người viết đưa nó thành một nhánh của bản đồ, minh họa bằng hình ảnh sinh động nếu muốn; mở rộng bản đồ tư duy từ khái quát đến cụ thể đến khi có thể. Hiểu biết và năng lực phát hiện của người viết về vấn đề càng phong phú, sâu sắc bao nhiêu thì càng có thể làm nảy sinh nhiều ý tưởng bấy nhiêu.
Bước 3. Lựa chọn và sắp xếp ý theo trật tự logic
Khi đã liệt kê được các ý tưởng nảy sinh trong đầu óc, người viết phải sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí, theo quy luật của tư duy logic. Trong thực tế, nhiều khi việc sắp xếp ý đã diễn ra song song với quá trình tìm ý. Tuy vậy, vẫn phải thực hiện bước đi này để đảm bảo chắc chắn quan hệ giữa các ý là có chủ đích. Bởi trong khi lập ý, việc sắp xếp trình tự các ý lớn, ý nhỏ đóng vai trò hết sức quan trọng. Một mặt, nó bộc lộ cách nhận thức của chủ thể về vấn đề đang bàn; mặc khác, nó lại có tác động không nhỏ tới tâm lí, tình cảm của người tiếp nhận về sau. Với việc triển khai nội dung cho một đề làm văn trong nhà trường phổ thông, người viết không thể và cũng không cần thiết phải đưa vào tất cả những hiểu biết của mình. Mỗi đề bài thường có yêu cầu riêng đòi hỏi người viết phải huy động lĩnh vực kiến thức nhất định và vận dụng tới những kĩ năng chuyên biệt.
Từ sơ đồ đã có sau bước hai, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn các ý phù hợp cho bài viết của mình, đảm bảo lấy những ý quan trọng nhất, làm bật được nội dung tư tưởng của bài cũng như phù hợp với dung lượng, thời gian yêu cầu. Đồng thời, tiến hành phân loại, sắp xếp các ý theo trình tự nhất định, đảm bảo tính logic, phát triển. Để làm được việc đó, học sinh không cần thiết vẽ lại sơ đồ theo trật tự mà có thể sử dụng con số, mũi tên, các kí hiệu riêng… để đánh dấu thứ tự trước – sau.
Với bản đồ tư duy đã có này, có thể thấy sản phẩm của thao tác lập ý không còn ở dạng tuyến tính theo kiểu truyền thống mà được “mã hóa lại” dưới dạng hình ảnh. Mỗi học sinh khác nhau có thể tạo ra một kiểu hình ảnh khác nhau. Điều này xuất phát từ việc mỗi chủ thể độc lập có một kiểu loại tư duy, khả năng khám phá, kĩ năng thể hiện và độ mở trong nhận thức hoàn toàn riêng biệt. Vì thế, so với cách làm trước đây, lập ý bằng bản đồ tư duy cho phép giáo viên đánh giá chuẩn xác hơn năng lực học sinh. Từ đó, có biện pháp điều chỉnh quá trình dạy học một cách phù hợp.