Kĩ năng làm đề thi môn Sinh học trong kỳ thi THPT Quốc Gia Hiệu quả

Kì thi THPT Quốc gia năm 2016 đang đến gần, do đó kế hoạch ôn tập, củng cố, rèn luyện những kiến thức đã học nhằm đạt được kết quả cao nhất trong kì thi sắp tới là một khâu hết sức quan trọng. Việc luyện đề thi thử của học sinh là một công việc then chốt có thể giải quyết tốt các vấn đề trên.

Nhà giáo Phan Tấn Thiện cho biết, thông qua việc giải các đề thi thử môn Sinh học, học sinh có thể ôn tập, khắc sâu các kiến thức đã được học, đồng thời rèn luyện cho học sinh kĩ năng tính toán để giải các bài tập trắc nghiệm một cách nhanh nhất, chính xác nhất.

ky-nang-lam-de-thi-mon-sinh-hoc-hieu-qua

Ngoài ra, việc giải đề thi thử còn giúp các em bổ sung các kiến thức còn thiếu trong quá trình học tập của mình, cách phân bố thời gian làm bài thi một cách hợp lí. Từ đó, các em có thể đạt được sự tự tin nhất trước khi bước vào kì thi chính thức – tự tin là một nhân tố quan trọng quyết định sự thành công.

Để đạt được hiệu quả tối ưu từ việc luyện đề thi thử môn Sinh học, các em cần phải thực hiện các bước sau:

Bước 1: Trước khi làm đề

Để có được sự tập trung cao độ trong quá trình luyện đề các em cần chú ý đến những công việc cần chuẩn bị trước khi làm đề như sau

+ Không gian: dọn dẹp ngăn nắp, sạch sẽ, đặc biệt là bàn học; khu vực luyện đề phải yên tĩnh, đủ ánh sáng.

+ Thời gian: Chuẩn bị đồng hồi để canh giờ thời gian làm bài, khoảng 5 đề thi thử đầu tiên các em nên làm mỗi đề trong thời gian 90′ (đúng với thời gian của đề thi chính thức), những đề sau đó các em phải đặt mục tiêu cao hơn bằng cách rút ngắn thời gian làm bài cho 1 đề thi thử (thời gian làm mỗi đề tỉ lệ nghịch với số thứ tự đề).

+ Dụng cụ: bút mực, bút chì, máy tính, phiếu trả lời trắc nghiệm, ngoài ra các em nên chuẩn bị thêm nước uống. Tuyệt đối trong thời gian làm đề các em không nên loay hoay tìm những vật này vì vấn đề sẽ ảnh hưởng đến mức độ tập trung của các em, đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch về thời gian mà chúng ta đã định sẵn.

Bước 2: Đang làm đề

Trong đề thi THPT Quốc gia năm 2015 gồm có 50 câu, trong đó có khoảng 25 câu dễ và 25 câu khó; các câu hỏi dễ rơi vào 25 câu đầu, các câu hỏi ở mức độ khó sẽ rơi vào phần còn lại của đề thi; số điểm mỗi câu hỏi của đề thi là 0,2 đ (dù dễ hoặc khó).

Do đó các em cần chọn những đề thi thử vào các năm 2015 và 2016 (vì trong các đề thi này cấu trúc như đã nêu ở trên), trong quá trình giải đề thi thử các em phải làm những câu hỏi dễ trước (đặc biệt những câu hỏi kiếm tra kiến thức lí thuyết).

Khi làm những câu dễ này các em cần phải có thái độ nhất khoát, để giải quyết các câu này một cách nhanh nhất, nếu quá cầu toàn sẽ ảnh hưởng đến lượng thời gian của những câu khó hơn còn lại.

Khi làm những câu khó thuộc phần sau của đề thi, các em vừa đọc đề vừa tập trung suy nghĩ nhưng không nên đọc quá chậm, cũng không nên đọc quá nhanh (vì nếu đọc quá nhanh các em sẽ phải mất công đọc lại đề một lẫn nữa); những bài tập dạng lạ, khó, phức tạp các em phải thực hiện sau cùng của thời gian làm bài.

Nếu cảm thấy không thể giải quyết được những câu khó nhất trong đề thi thì các em nên tạm gác lại để dò lại những câu đã làm được, đặc biệt là những câu có tính toán.

Cuối cùng các em tổng kết lại số lượng các phương án lựa chọn đã tìm được ở các câu mình đã làm, phương án nào có số lần chọn thấp nhất thì trong những câu không thể làm được các em nên chọn đồng loạt phương án này. Ví dụ: các em đã làm được 40 câu, 10 câu không thể giải quyết được, trong 40 câu đã làm được có 12 câu chọn phương án A, 10 câu chọn phương án B, 13 câu chọn phương án C và 5 câu chọn phương án D thì tất cả 10 câu không thể giải quyết được các em phải chọn phương án D.

Thực hiện cách này, xác suất các em chọn được phương án đúng sẽ cao nhất. Lưu ý, trong lúc làm đề thi thử thì 10 câu chọn phương án theo kiểu này các em phải đánh dấu để biết được những câu này là những câu mình không thể làm được để chuẩn bị cho công việc ở bước 3.

Bước 3: Sau khi làm đề

Kiểm tra đáp án để biết số điểm mình đã làm được (nếu đề thi có đáp án), đồng thời đánh dấu những câu những không làm không làm được (trong đó có 10 câu như ví dụ ở bước 2). Những câu không làm được các em cần tìm những tài liệu như sách giáo khoa, sách tham khảo để bổ sung kịp thời những kiến thức đã “hỏng”, đồng thời xem lại những kiến thức liên quan (trong phạm vi hẹp) đến kiến thức hỏng để hoàn thiện kiến thức một cách trọn vẹn.

Ví dụ: các em “hỏng” kiến thức liên quan đến nhân tố tiến hóa là chọn lọc tự nhiên thì ngoài ôn tập lại kiến thức nhân tố tiến hóa chọn lọc tự nhiên thì các em phải ôn tập lại toàn bộ 4 nhân tố tiến hóa còn lại là đột biến, giao phối không ngẫu nhiên, di – nhập gen, các yếu tố ngẫu nhiên.

Nếu trong những tài liệu này các em vẫn không tìm những được kiến thức đến câu hỏi của đề thi thì các em nên tiếp tục hỏi bạn bè của mình hoặc các Thầy cô giáo.

Đối với những đề không có đáp án thì bắt buộc các em phải rà soát lại kiến thức của từng câu hỏi trong đề thi để tìm kết quả đúng cho từng câu hỏi.

Chúc các em đạt được kết quả cao nhất trong kì thi sắp tới!

Phan Tấn Thiện

Phương pháp ôn tập môn Sinh hiệu quả trong thời gian ngắn

Thầy Đinh Quốc Hưng sẽ hướng chia sẻ cho các em Phương pháp ôn tập môn Sinh hiệu quả trong thời gian ngắn để chuẩn bị gấp rút cho kỳ thi THPT Quốc Gia sắp tới. Dưới đây, là bài chia sẻ chi tiết của thầy mời các bạn đón xem.

Các sĩ tử cần lưu ý những gì khi ôn thi môn Sinh học?

Trong việc học lý thuyết, các em luôn phải lưu tâm kiến thức sách giáo khoa, vì sách giáo khoa là cơ sở để xây dựng các câu hỏi. Các em cũng phải luôn lưu ý việc ghi chép mạch lạc, hệ thống vì điều đó sẽ giúp chúng ta ghi nhớ tốt hơn. Trong việc ôn thi môn Sinh, các em không cần thiết phải học thuộc lòng, tuy nhiên, để nhớ được kiến thức nhất định thì các em cần hiểu sâu kiến thức. Nếu ta tìm ra những điều thú vị, bất ngờ trong bài học thì ta sẽ nhớ rất lâu. Như vậy để học giỏi môn Sinh, đừng thụ động ghi nhớ những gì thầy cô truyền thụ. Phải luôn đặt câu hỏi: Bài này có gì hay? Điều này có ý nghĩa gì cho sinh vật trong tự nhiên? Thực tế người ta đã làm được gì hay ho từ kiến thức này.

phuong-phap-on-thi-mon-sinh-hieu-qua-trong-thoi-gian-ngan

Trong môn Sinh học không có quá nhiều dạng bài. Với mỗi dạng bài tập khi làm xong chúng ta cần rút ra những điểm mấu chốt quan trọng khi giải bài tập đó. Thường khi đã nắm chắc phương pháp giải ta sẽ giải quyết được hầu hết các bài tập mới có liên quan. Tuy nhiên, đôi khi có những bài tập mới ta vận dụng phương pháp giải đã học được mà vẫn không ra thì nhất định ta phải hỏi thầy cô và các bạn để hiểu tường tận tại sao lại không ra? Mình đã nhầm chỗ nào? Hay đề bài chưa thực sự chặt chẽ? Tôi quan niệm rằng khi làm đúng một bài chưa chắc đã có ý nghĩa bằng việc làm sai một bài nhưng hiểu tường tận tại sao mình làm sai. Vì điều đó sẽ giúp chúng ta tránh được rất nhiều sai sót khi giải các dạng bài tập mới.

Kĩ năng làm đề thi môn Sinh trong phòng thi

Có nhiều bạn có thói quen làm toàn bộ lý thuyết trước, sau đó làm sang bài tập. Nếu bạn nào đã quá quen với cách làm bài đó thì có thể giữ cũng được. Vì đôi khi làm bài theo thói quen giúp các em có tâm lý thoải mái hơn, tốc độ làm nhanh hơn. Tuy nhiên cách làm này cũng có nhược điểm là khó kiểm soát được thời gian làm bài vì bản thân không biết đã làm được bao nhiêu câu, tốc độ như thế nhanh hay chậm để kịp thời điều chỉnh.

Khi làm bài tập các em lưu tâm mỗi bài dễ mất khoảng 1 – 2 phút, mỗi bài khó mất khoảng 2 – 3 phút, chính vì thế nếu bài nào làm quá 3 phút mà chưa ra hướng giải thì đừng mất quá nhiều thời gian với nó. Hãy đánh dấu lại và chuyển sang câu kế tiếp.

Khi làm lý thuyết thì nhớ là đừng quá vội vàng. Một câu lý thuyết thường dễ ăn điểm hơn một câu bài tập. Hì hục làm 1 câu bài tập khó được 0,2 điểm nhưng nhẹ nhàng tích một câu lý thuyết dễ cũng được 0,2 điểm, do vậy đừng quá coi thường lý thuyết.

Với những câu lý thuyết có 4 phương án A B C D, giả sử nhận ra B là đáp án đúng vẫn nên đọc hết cả đáp án C và D. Biết chắc B là phương án đúng thì hãy khoanh đáp án.

Với những câu lý thuyết hỏi số nhận định đúng hay số nhận định sai cần phải có một cách đánh dấu nhất quán. Nghĩa là khi phân tích các nhận định, chúng ta không cần quan tâm đề hỏi số nhận định đúng hay số nhận định sai. Nhận định nào đúng về mặt khoa học thì tích V, nhận định nào sai thì thích dấu X, sau khi đã đánh giá các nhận định thì mới quay lại xem đề hỏi số nhận định sai hay số nhận định đúng. Khi đang suy nghĩ về bản chất các nhận định mà cứ phải đối chiếu xem đề hỏi nhận định đúng hay nhận định sai sẽ làm các em dễ tích nhầm.

Phương pháp học hiệu quả trong thời gian ngắn

Đầu tiên, nhất định các em phải dành ra một quỹ thời gian ôn lại lý thuyết bao gồm sách giáo khoa và vở lý thuyết các thầy cô cho các em ghi. Hãy nhớ rằng trên 60% số câu hỏi là lý thuyết. Không ôn lại lý thuyết là tự tay vứt đi 1 đến 2 điểm vô cùng đáng tiếc.

Thứ 2, các em phải xem lại tất cả các dạng bài tập mà các thầy cô đã dạy. Rà soát lại xem dạng nào mình chưa hiểu, sau đó hỏi thầy cô và bạn bè để nắm rõ bản chất.

Cuối cùng, các em nhất định phải dành quỹ thời gian để làm đề thi thử. Tham khảo các thầy cô và các bạn để có các đề thi thử chất lượng. Sau đó dành ra một số buổi trong tuần để luyện đề. Thời gian làm đề tốt nhất nên trùng với thời gian thi thật. Nghĩa là môn Sinh thi chiều 4/7 thì buổi làm đề nên là buổi chiều, từ 14h30 – 16h. không gian làm đề cần yêu tĩnh, làm liên tục trong khoảng thời gian 80-90 phút. Trong lúc làm đề không nên đứng dậy làm việc khác. Sau khi so đáp án hãy đánh dấu những câu bài tập và lý thuyết mới và khó lại để tuần cuối cùng trước khi thi có thể bỏ ra xem lướt qua.

Cách giải nhanh bài tập Hình học phẳng Oxy trong đề thi THPT quốc gia

Bài tập Hình học phẳng Oxy (Hình giải tích trong mặt phẳng) là một bài khó, thường là câu lấy điểm 8 nhưng đôi khi cũng là câu lấy điểm 9 trong đề thi THPT quốc gia.

Rất nhiều học sinh làm được câu lấy điểm 9 (Phương trình vô tỉ, Bất phương trình vô tỉ, Hệ phương trình) nhưng không làm được câu Hình học phẳng Oxy. Nguyên nhân là do câu lấy điểm 9 thường có những dạng cụ thể, các dấu hiệu đã được khai thác nhiều, học sinh cần có tư duy tốt và ôn luyện đầy đủ các dạng và kĩ thuật giải toán thì khả năng làm được là khá cao.

cach-giai-nhanh-bai-tap-hinh-hoc-phang-oxy-trong-de-thi-thpt-quoc-gia-4

Trong khi đó, đặc thù môn Hình học là không có nhiều dạng cụ thể một cách rõ ràng. Nên học sinh lúc ôn thi thường không có cái nhìn tổng quát về những phần kiến thức sẽ thi. Khi làm bài thường dựa vào sự may mắn.

Để làm được bài tập Hình học phẳng Oxy, thầy Nguyễn Bá Tuấn đưa ra một vài lời khuyên sau:

– Câu Hình học phẳng Oxy thường sẽ có hai mức độ. Mức độ 1 thường cho các em tìm được một dữ kiện nào đó lấy 0,25đ. Khi làm bài, chúng ta tìm được các tọa độ các điểm (hoặc việc tham số các tọa độ điểm theo ẩn), hay viết phương trình đường thẳng, tính khoảng cách…. thông qua các dữ kiện cho trước là các bạn có thể được 0,25 điểm.

– Vấn đề mấu chốt trong câu Hình học phẳng Oxy thường là một tính chất về sự vuông góc, bằng nhau (đoạn thẳng bằng nhau hoặc góc bằng nhau) hoặc 1 tỉ lệ xoay quanh những dữ kiện đã biết. Để tìm ra tính chất quan trọng đó ta có mấy lưu ý như sau:

+ Vẽ hình thật chính xác;

+ Có thể vẽ nhiều hình, hoặc vẽ những trường hợp đặc biệt để rút ra các quy luật chung từ các hình đó;

+ Dành thời gian ôn luyện các bài toán THCS có liên quan đến tam giác, các hình tứ giác, các tính chất liên quan tới đường tròn… Với mỗi bài toán nên ghi nhớ lại các tính chất đặc trưng và cách chứng minh. Việc ghi nhớ lại nên làm tương tự khi giải các bài toán hình học phẳng trong các đề thi thử của nhiều trường.

+ Các dữ kiện đề bài đều có mục đích của nó. Nếu quan sát bài toán mà không tìm thấy hướng đi nào thì nên gắn kết các dữ kiện lại mà đề bài cho lại với nhau. Ví dụ, cho tọa độ 2 điểm A, B thì sẽ viết được phương trình đường thẳng AB, xác định được độ dài đoạn AB, viết được phương trình đường vuông với AB tại A, B hay xác định được trung điểm của AB… Cùng với kết hợp các dữ kiện còn lại sẽ tạo ra các ý tưởng, hướng đi tiếp theo.

+ Quá trình giải là quá trình tìm điểm, tìm đường một cách có thứ tự. Cần xem những điểm nào nằm trên những đường cho trước để ưu tiên tìm đầu tiên, cũng dựa vào những điểm đó để xây dựng lên tính chất cốt lõi mà bài toán ngầm để trong đó.

Ví dụ 1: Cho tam giác ABC nội tiếp đường tròn tâm I(2;1), bán kính . Biết chân đường cao hạ từ các đỉnh B, C đến AC và AB lần lượt là K(-2;3) và . Tìm tọa độ các đỉnh tam giác.

cach-giai-nhanh-bai-tap-hinh-hoc-phang-oxy-trong-de-thi-thpt-quoc-gia-1
Hướng dẫn giải nhanh bài tập Hình học phẳng Oxy trong đề thi THPT quốc gia – ảnh 1
+ Khi các em nhớ được tính chất AI vuông góc với HK thì bài toán trở lên nhẹ nhàng, trong trường hợp không nhớ thì thực hiện việc vẽ hình chuẩn xác hoặc vẽ thêm 1 hình khác để quan sát tính chất cố định trong hình là 1 điều rất cần thiết.
+ Việc phát hiện tính chất trong hình ta cũng nên kết hợp thêm việc gắn kết tới các dữ kiện mà đề bài đã cho. Trong bài trên ta đã biết tọa độ 3 điểm H, K, I cùng bán kính IA=IB=IC. Như vậy nếu tọa độ 3 đỉnh được tham số qua 1 phương trình đường thẳng thì bài toán được giải quyết. Các phương trình đường thẳng này sẽ phải đi qua tọa độ các điểm mà đề bài đã cho => cần thêm 1 vector pháp tuyến hoặc vector chỉ phương hay 1 yếu tố về góc, khoảng cách => quan sát các tính chất về // hoặc vuông góc trong hình vẽ cho ta sự phát hiện về yếu tố hoặc quan sát xem BI có thể // với HK được hay không?

Khi phát hiện được tính chất rồi thì việc đi chứng minh tính chất đó cũng là 1 công việc rất quan trọng. Việc chứng minh thường không khó song vẫn cần nắm chắc các kiến thức cơ sở trong chương trình THCS.

Từ I kẻ IM vuông góc với AC tại M khi đó ta có

Mặt khác do tứ giác BCKH nội tiếp =>

Mà hay AI vuông góc với KH

+ Trong bài toán thường có những điều kiện về hoành độ (hoặc tung độ đối với điểm nào đó ) thì đó cũng là một gợi ý ở đề bài về việc sẽ tìm đến điểm đó. Các em lưu ý là những dữ kiện như vậy chỉ có tính loại bớt nghiệm hình. Có nhiều bạn lo xa, hay coi những dữ kiện như thế quan trọng hơn mức độ thực sự của nó.

+ Ngoài ra các em nên thành thạo các bài toán nhỏ: như viết phương trình đường thẳng liên quan tới (điểm, khoảng cách), (điểm, góc), (điểm, đường tròn), (khoảng cách, đường tròn)… Khi đứng riêng rẽ thì đó là các bài toán rất đơn giản xong việc kết hợp nó vào trong các hình phẳng làm nó trở lên phức tạp hơn, khó nhìn nhận ra.

Ví dụ 2: Trong mặt phẳng tọa độ , cho tam giác có , trực tâm và . Gọi lần lượt là chân đường cao kẻ từ . Viết phương trình đường thẳng biết đường thẳng đi qua .

cach-giai-nhanh-bai-tap-hinh-hoc-phang-oxy-trong-de-thi-thpt-quoc-gia-2

Hướng dẫn giải nhanh bài tập Hình học phẳng Oxy trong đề thi THPT quốc gia – ảnh 2
Ngoài việc phát hiện và chứng minh tính chất MN vuông EF thì hướng đi tiếp theo có nhiều bạn sẽ vẫn còn gặp khó khăn.
Ở bài toán này khi MN vuông EF ta sẽ tính được độ dài đoạn thẳng EF thông qua tam giác vuông NEM (NE=AH/2, EM=BC/2).

Như vậy ta dễ dàng xác định được E, F thông qua cách giải bài toán nhỏ:

Viết phương trình đường thẳng đi qua K cắt đường tròn đường kính AH 1 khoảng có độ dài EF (do EHFA nội tiếp).

Thầy Nguyễn Bá Tuấn, Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội

Bí quyết ôn thi môn Văn: Một số dạng đề thi môn Ngữ Văn hay gặp

Để xác định rõ hơn hướng ôn tập môn Ngữ Văn của mình thì các bạn học sinh cần phải nắm được những chủ đề cơ bản trong phần nội dung, dạng đề thi cho từng loại câu, dung lượng cần thiết cho mỗi câu hỏi đề thi, làm cách nào để xử lí các dạng câu hỏi tốt nhất. Vậy, để vượt qua những khó khăn và đạt được kết quả như mong muốn thì mỗi học sinh cần phải nắm được những bí quyết nào?

Dưới đây, Nhà Giáo Trần Hinh, khoa Văn học – Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội – Đại học Quốc Gia Hà Nội sẽ hướng dẫn giúp thí sinh ôn tập tốt môn Văn.

Thí sinh lưu ý tập trung vào phần văn học Việt Nam từ 1930 trở đi. Trong phần này, yêu cầu đề thi cũng rất cụ thể: học sinh phải nắm vững các kiến thức về giai đoạn văn học, trào lưu văn học, tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh sáng tác để trả lời các câu hỏi dạng câu 2 điểm.

Với câu hỏi thuộc dạng này, thí sinh chỉ cần viết trong khoảng từ 30 đến 50 dòng (hoặc từ 500 đến 600 chữ), tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể của đề và khả năng nhớ và hiểu kiến thức của học sinh. Những bài viết dài dòng cho dạng câu hỏi này hoàn toàn không cần thiết, vì dù thế nào, bài thi cũng không vượt điểm 2, là khung điểm tối đa cho câu hỏi loại này.

bi-quyet-on-thi-mon-van-mot-so-dang-de-thi-hay-gap

Về mảng kiến thức giai đoạn văn học, trong nội dung hạn chế, chỉ có duy nhất một bài học (Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX), nhưng do đây là một giai đoạn dài, có nhiều biến cố và cũng có những đặc điểm riêng, đề thi cũng có thể chia nhỏ chứ không hỏi toàn bộ giai đoạn.

Chẳng hạn, đề thi chỉ kiểm tra sự hiểu biết của học sinh riêng về giai đoạn văn học chống Pháp (từ 1946 đến 1954); hoặc giai đoạn từ 1955 đến 1964; hoặc nữa, đề thi đại học khối D năm 2009, hỏi thẳng vào một đặc điểm quan trọng của giai đoạn văn học 1945-1975: “Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Hãy nêu rõ những nét chính đặc điểm trên. Vì thế, cách ôn luyện tốt nhất cho phần nội dung kiến thức này, nên chú ý vào những kiến thức cốt lõi.

Cụ thể, phần kiến thức giai đoạn văn học, cần nhớ được những ý chính như sau:

  • Từ 1946 đến 1954, chủ đề bao trùm là ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi tinh thần đoàn kết và tập trung cho kháng chiến chống Pháp.
  • Từ 1955 đến 1964, chủ đề chính là xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam. Nhân vật trung tâm là người lao động mới và người chiến sĩ giải phóng.
  • Từ 1964 đến 1975, văn học chủ yếu tập trung cho kháng chiến chống Mĩ, giải phóng đất nước, chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở cả hai miền Nam, Bắc.
  • Từ sau 1975, đất nước thống nhất, văn học vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, đổi mới về quan niệm của nhà văn, cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn được phát huy cao độ. Đặc biệt từ sau năm 1986, văn học Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới. Sự giao lưu, hội nhập với thế giới được đẩy mạnh, góp phần quan trọng trong việc hiện đại hoá văn học nước nhà.

Nhìn chung, khi tiếp xúc với dạng câu hỏi này, học sinh chỉ cần nhớ được những ý cơ bản, trong đó gồm yếu tố bối cảnh xã hội, thành tựu của văn học, tác giả và tác phẩm chính. Mỗi giai đoạn chỉ cần nói được một vài đặc điểm cơ bản là được.

Mảng kiến thức về trào lưu văn học: trong chương trình chỉ có duy nhất bài học: Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh. Đây còn là dạng bài nghị luận văn học. Học sinh có thể thông qua bài học này để nhận biết một bài văn nghị luận văn học nghĩa là như thế nào.

Tuy nhiên, vì vẫn thuộc dạng câu hỏi 2 điểm, chúng ta cũng chỉ cần nhớ và hiểu được tư tưởng cốt lõi của Hoài Thanh, nắm được tinh thần Thơ mới, theo ông là gì? Thơ cũ và Thơ mới khác nhau ở chỗ nào? Hạn chế và đóng góp của cái Tôi Thơ mới?

Về mảng kiến thức tác giả, nên nhớ trong nội dung hạn chế có 5 tác giả được lưu ý sử dụng cho câu hỏi thi thuộc dạng này. Đó là Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Tố Hữu và Hồ Chí Minh.

Vì đây cũng là dạng câu 2 điểm, nên khi viết, học sinh cũng phải tự hạn chế dung lượng bài làm của mình. Nên cố gắng viết ngắn, thậm chí bài viết có thể gạch đầu dòng các ý chính mà không bị coi là phạm quy. Tuy nhiên, xung quanh khối kiến thức này, cần phân biệt được hai dạng câu hỏi: hoặc đề chỉ yêu cầu tóm tắt sự nghiệp chính của nhà văn, hoặc hỏi về phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Trong cả hai trường hợp, ta có thể tận dụng các ý của nhau, chẳng hạn, với dạng thứ nhất, nên tập trung kĩ hơn vào các sự kiện ngày tháng, tên tác phẩm, rồi tóm tắt đặc điểm sáng tác; ở dạng thứ hai, nên tập trung nêu đặc điểm phong cách sáng tác của nhà văn, nhưng cũng vẫn cần nhắc qua sự kiện.

Ngoài ra, còn có thể có cả dạng câu hỏi yêu cầu nêu quan điểm nghệ thuật của nhà văn (Quan niệm nghệ thuật của Hồ Chí Minh, Quan niệm nghệ thuật Nam Cao trước cách mạng…); hoặc thông qua một đoạn văn, nhân vật, để phát biểu quan điểm nghệ thuật của nhà văn. Những câu hỏi thuộc dạng này, sách giáo khoa trình bày khá đầy đủ. Học sinh có thể tham khảo trong đó.

Về mảng kiến thức tác phẩm, có ba dạng chính học sinh cần phải nắm được để viết bài:

Thứ nhất, với một số tác phẩm, đề thi có thể yêu cầu tóm tắt cốt truyện (Vợ chồng A phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Vợ nhặt…), những chi tiết quan trọng trong tác phẩm (Chi tiết đoạn sông Hương ở thượng nguồn được Hoàng Phủ Ngọc Tường so sánh với hai người phụ nữ, đó là những hình ảnh nào? Nhân vật Huấn Cao dặn dò viên quản ngục điều gì sau khi cho chữ ở tác phẩm Chữ người tử tù? Hoàn cảnh nhân vật Mị nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ trong Vợ chồng A Phủ…), giải thích nhan đề tác phẩm (nhan đề Vợ nhặt, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa…);

Thứ hai, nêu hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của nhà văn (Hoàn cảnh ra đời và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc, Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của Tuyên ngôn Độc lập…);

Thứ ba, nêu một hoặc một vài đặc điểm cơ bản nào đó của tác phẩm đã học (Nét đặc sắc nghệ thuật của Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Việt Bắc…). Phần vận dụng kiến thức viết bài cho dạng câu 2 điểm, thực ra không đòi hỏi kĩ năng nhiều. Chỉ cần học sinh hiểu bài học và biết vận dụng đúng cho từng loại câu hỏi.

Phương pháp lấy điểm câu cực khó trong đề thi Sinh học về di truyền phả hệ

Thầy giáo, ThS. Đinh Đức Hiền, nghiên cứu sinh Viện Công nghiệp Thực phẩm, Bộ Công Thương sẽ hướng dẫn các em ghi điểm các câu hỏi khó trong đề thi Sinh học về di truyền phả hệ

Bài tập di truyền phả hệ là một câu hỏi khó/rất khó nhằm phân loại thí sinh. Điểm khác biệt của di truyền phả hệ là đối tượng trên người chứ không phải động vật hay thực vật, vì thế bài toán sẽ không có các tỉ lệ kiểu hình như phép lai trong bài tập quy luật di truyền, thay vào đó là kiểu hình và mối liên hệ giữa các thành viên trong phả hệ là căn cứ để giải quyết bài toán.

Thầy giáo Đinh Đức Hiền nhấn mạnh, khó khăn khi làm bài tập di truyền phả hệ không nằm ở tính toán mà mấu chốt là sự gây nhầm lẫn. Bài tập di truyền phả hệ trong đề thi có thể cho dưới 2 hình thức: lời văn hoặc sơ đồ phả hệ cho sẵn, nếu như là lời văn, cách tốt nhất là các em nên vẽ lại nó thành sơ đồ phả hệ một cách cẩn thận vào nháp, nếu vẽ sai thì sẽ không giải được bài toán còn không vẽ ra sẽ rất rối bởi các thông tin về mối quan hệ họ hàng giữa các cá thể trong phả hệ.

phuong-phap-lay-diem-cau-cuc-kho-trong-de-thi-sinh-hoc-ve-di-truyen-pha-he

Để làm tốt bài tập di truyền phả hệ, thầy Đinh Đức Hiền lưu ý 3 chủ điểm kiến thức mà học sinh cần nắm vững, như sau:

Thứ nhất, Quy luật Mendel về lai một cặp tính trạng: nắm vững dấu hiệu nhận biết trội lặn hoàn toàn hay không hoàn toàn của một tính trạng để từ đó suy ra alen gây bệnh là alen trội hay lặn, đương nhiên không được bỏ qua các tỉ lệ của các phép lai cơ bản, các em cần nắm rõ như bảng cửu chương vậy.

Thứ 2, Di truyền liên kết với giới tính: Các em đều học rằng nếu tính trạng phân bố không đồng đều ở hai giới và chủ yếu biểu hiện ở con đực thì gen quy định tính trạng nằm trên NST X (không có alen tương ứng trên Y), tuân theo quy luật di truyền chéo, tuy nhiên cái nhầm lẫn hay cái bẫy tiếp theo nằm ở đây, vì người không sinh sản nhiều, nếu như số lượng cá thể trong phả hệ ít mà các em áp dụng theo tỷ lệ đực: cái rất dễ dẫn đến sai lầm, vậy trong trường hợp này dấu hiệu di truyền chéo là tuyệt vời nhất: gen trên X từ bố phải truyền cho con gái, gen trên X ở con trai tất nhiên phải nhận từ mẹ.

Nếu gen gây bệnh nằm trên NST giới tính Y (không có alen tương ứng trên X) thì tuân theo quy luật di truyền thẳng (di truyềnluật t di truyền chéo cho 100 % cá thể có tổ hợp kiểu gen XY ), thường thì dạng này ít gặp trong đề thi do nó quá rõ ràng.

Thứ 3, Quy luật di truyền liên kết hoàn toàn và hoán vị gen: bài tập liên quan đến phần này ít có trong đề thi hơn, thông thường đề bài sẽ cho tính trạng nào liên kết với tính trạng nào rồi, còn có thể cho khoảng cách giữa các gen trên NST từ đó tính tần số HVG, các em không phải đi chứng minh, việc còn lại là tìm kiểu gen cơ thể theo yêu cầu đề bài. Các em cũng cần lưu ý thêm dạng này để tránh bỡ ngỡ khi đi thi.

Di truyền phả hệ thường được ra dưới 2 dạng bài tập sau: xác định kiểu gen cá thể trong phả hệ và tìm xác suất kiểu gen của cá thể trong phả hệ (cá thể đã được sinh ra hoặc dự đoán cá thể sinh ra).

Phương pháp chung để giải 2 dạng bài tập di truyền phả hệ là gì, trải qua những bước cụ thể nào, mời học sinh đón đọc ở phần 2.