Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận.

Đề bài:Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận.

Dàn ý bài văn Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận.

A – MỞ BÀI

Tràng giang là một trong những bài thơ tiêu biểu của Huy Cận trước cách mạng. Nó thể hiện một nỗi buồn thấm thía tới tận đáy hồn nhân thế của Thơ mới. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” cho thấy nỗi buồn ở đây mang tầm vóc vũ trụ và cảm hứng về không gian sẽ là cảm hứng chủ đạo trong bài thơ này.

B – THÂN BÀI

Theo lời của nhà thơ, cảm hứng của bài thơ đã bắt đầu vào một chiều thu năm 1939. Khi đó tác giả đứng ở bờ phía Nam bến Chèm nhìn cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước, bốn bề bao la vắng lặng mà nghĩ về kiếp người thật nhỏ bé cô đơn. Cảnh sông ở bài thơ tuy buồn nhưng đẹp và cũng thật quen thuộc với người Việt Nam.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Âm hưởng chung của khổ thơ là không khí Đường thi cổ điển.

Bài thơ Tràng Giang-Huy Cận

Ngay dòng thơ đầu tiên, chúng ta đã bắt gặp từ Hán Việt “tràng giang”. “Tràng giang” tạo nên một âm hưởng xa xôi: Có con sông đấy nhưng dường như nó không có thực. “Tràng giang” còn gợi ý niệm về không gian “con sông dài”. Nó gợi cả ý niệm về thời gian: con sông ấy có từ khi nào? Có lẽ nó chảy triền miên từ khi có vũ trụ, từ quá khứ và sẽ còn chảy mãi khi lớp người đang sống hôm nay sẽ trở thành khúc thiên cổ. Tác giả không dùng từ “sông dài” bởi quá nôm na và cũng không gọi là “trường giang”. Có lẽ 2 vần “ang” đã tạo nên một cộng hưởng gợi lên sự trống vắng mênh mang của lòng người. Mặt khác, trong tâm thức văn hóa của người Việt Nam, đất nước và thôn xóm đã hình thành bên dòng tràng giang như thế cho nên câu thơ dã gợi hình ảnh tượng trưng cho non sông đất nước muôn đời.

Trên dòng tràng giang ấy, những con sóng không dữ dội, nó chỉ gợn lên. Thế nhưng dòng sông lại được nhân hóa gắn với nỗi buồn “điệp điệp”. Hai tiếng “điệp điệp” gợi hình ảnh về 2 con sóng kế tiếp vào nhau cứ đuổi nhau xa mãi nơi chân trời. Mỗi con sóng mang một tâm sự buồn, cả con sông đầy sóng là hằng hà sa số những nỗi buồn. Thật ra nhìn tràng giang như một sinh thể đầy tâm tư buồn là do chính nỗi buồn từ trong lòng nhà thơ trải dài trên sóng nước. Đó là một nỗi buồn vô tận triền miên hết lớp này đến lớp khác không nguôi.

Ba câu thơ tiếp theo gợi sâu hơn nỗi buồn ấy. Ở đây xuất hiện ba hình ảnh được nhà thơ quan sát trên dòng tràng giang. Đó là một con thuyền xuôi mái dường như trôi song song với dòng nước tưởng như nước không có quan hệ gì với thuyền.

Hình ảnh tiếp theo cho thấy sự mâu thuẫn giữa thuyền và nước: thuyền về thì nước lại. Và hình ảnh cành củi khô trơ trọi khép lại khổ thơ. Đến đây ta chợt nhớ câu thơ quen thuộc của Bà Huyện Thanh Quan: “Gác mái ngư ông về viễn phố”, ta mới thấy câu thơ của Huy Cận càng mới hơn, nỗi buồn thấm thía hơn. Dù gác mái nhưng trên thuyền vẫn có bóng ngư ông, nghĩa là vẫn có con người. Con thuyền vẫn có bến xác định là “viễn phố”. Còn trong câu thơ của Huy Cận, con thuyền vừa không có dáng người vừa vô định. Miêu tả sự vật vốn gắn bó với đời sống con người mà lại không có con người tạo nên một cảm giác rờn rợn về thế giới loài người đã mất. Thuyền và nước vốn gần gũi với nhau nhưng không phải bao giờ cũng gắn bó vì mỗi con sóng chỉ xuôi theo thuyền trong chốc lát, vì những dòng nước trên tràng giang sẽ chia ra trăm ngả xa xôi. Nỗi buồn ở dòng thơ thứ 3 là nỗi buồn của sự tan tác chia li. Thực ra thuyền cũng không biết nhờ đâu mà trôi chỉ biết rằng nước song song không đi với thuyền. Do đó “thuyền về” đối ứng một cách trớ trêu với “nước lại”.

Nỗi buồn được đẩy lên cao hơn khi xuất hiện dòng nước.

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận

Hiện tượng đảo ngữ đã dồn thông báo vào từ “củi”, nó gợi cả một thân phận từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Quá khứ là một cành cây xanh tươi mà giờ đây chỉ còn là một cành củi khô trôi dạt trên sóng – những cá thể cũng rất cô đơn. Cành củi ấy rất thụ động, nó bị xô dạt theo những dòng tràng giang. Thân phận của cành củi trải qua bao đau thương khô héo, bao trôi dạt đổi thay. Đến đây khổ thơ đã tạo nên cái tương phản giữa sự mênh mang vĩnh hằng của không gian với sự nhỏ bé của cành củi khô. Mỗi kiếp người có khác gì cành củi khô kia cũng mong manh đơn độc, cũng lênh đênh trôi dạt không biết về đâu.

Câu thơ thứ nhất tả sóng, câu hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên sông, Đọc câu thơ thứ nhất ta thấy những vòng sóng đang loang ra, gối lên nhau, xô nhau đến chân trời thì ở câu thứ hai mở ra những luồng nước song song chảy mãi về cuối trời. Trên sóng nước muôn trùng ấy hình ảnh con thuyền trôi im lìm được nhấn đậm nét bằng hình ảnh một cành củi khô bơ vơ.

Vào đến khổ thơ thứ 2, Huy Cận đã vẽ thêm nhiều nét rất cụ thể để diễn tả sự mênh mang lạnh lẽo xa vắng của dòng sông bằng cách miêu tả nỗi buồn của cảnh vật.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

“Lơ thơ… đìu hiu”là không gian kề cận của bờ tràng giang. “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” là một không gian vời vợi, cách rất xa dòng tràng giang.

Dường như dòng sông đang chảy qua một nghĩa địa, ở nơi ấy chỉ có gò mả ngổn ngang. Những cồn nhỏ lụp xụp bên bờ sông đã gợi một sự trơ trụi trống vắng. Nó vừa có sự thưa thớt rải rác trong từ “lơ thơ” lại vừa gợi cảm. “Cồn nhỏ lơ thơ” còn có một sức gợi, hình như những cồn nhỏ ấy đang lừ đừ trôi không phải trên dòng nước mà trong một sức mạnh thần bí của dòng đời. Điều cảm nhận này chúng ta có thể đọc được trong bài ca quan họ “Sông Cầu nước chảy lơ thơ”. Cái cồn nhỏ lơ thơ ấy đáng ghê sợ và lạnh lẽo hơn bởi có ngọn gió đìu hiu đầy âm khí làm bầu bạn. Từ “đìu hiu” gợi cõi âm đáng sợ rất ghê rợn đưa chúng ta đến thế giới _ khác, không phải thế giới cuộc đời. Từ láy đìu hiu rất dễ gợi không khí tang tóc. Xuân Diệu đã từng viết: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang”.

Dòng thơ thứ 6 là một câu hỏi khắc khoải về một không gian ấm áp tình người “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Đây là không gian giả định, không gian mơ ước, một không gian mà nhà thơ muốn dứt ra khỏi cõi hãi hùng của cồn nhỏ, của gió đìu hiu. Thế nhưng cố gắng lắng nghe thì tiếng làng xa, tiếng của đời thường hoàn toàn không có. Tuyệt vọng hơn là cầu mong những tiếng lơ thơ thưa thớt của phiên chợ vãn cũng không có nốt. Phiên chợ vãn buổi chiều của thôn quê Việt Nam ngàn đời vốn rất hoang tàn và ảm đạm. Nỗi buồn nhân thế được nhân lên gấp bội.

Hai câu thơ sau hướng về không gian trống không của vũ trụ:

Nắng xuống… chót vót

Sông dài… cô liêu

Có một cái trục tung được dựng thẳng đứng. Nhờ nắng xuống mà ta thấy trời lên, lên đến mức làm ta choáng ngợp ngỡ rằng đang nhìn xuống trái đất như là một đỉnh núi mà vũ trụ thăm thẳm như một thung lũng ở dưới.

Có một cái trục hoành cắt ngang đó là một dòng sông dài và bầu trời cứ mở rộng ra thành bến hoang lạnh cô liêu khiến cho dòng sông hoang vắng đến lạ lùng.

Như vậy có một hệ trục tọa độ của không gian mà chẳng hề có một giá trị đáng kể nào để được ghi nhận. Khổ thơ này đã nhấn mạnh thêm cảm hứng dậm đặc về không gian của bài Tràng giang và cho thấy cảm quan rất tinh tế của Huy Cận. Khi mặt trời đang ở trên cao thì cảm giác giữa trời và đất là hữu hạn. Còn khi mặt trời đã nhuốm hoàng hôn thì ánh nắng đã hắt lên cao, bầu trời sẽ trở nên thăm thẳm không cùng, con mắt của chúng ta khó lòng mà nhìn tận cùng độ sâu hun hút ấy. vẻ đẹp rất hoang sơ, hùng vĩ chỉ làm cho nỗi buồn thêm dằn vặt và lan rộng. Cái bến cô liêu nào cũng rất dễ gợi thân phận của người ngắm cảnh.

Sang khổ thơ thứ ba dường như có sự đối lập với khổ thơ hai.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng,

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thần mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Tác giả không quan tâm tới cái mênh mông, cái hùng vĩ mà chú ý đến những cánh bèo dạt,cái nhỏ bé. Những cánh bèo dắt díu nhau lê thê, hàng nối hàng không dứt và chầm chậm trôi cũng ngơ ngác như con thuyền, cành củi khô ở khổ thơ đầu. Chính trong những hàng bèo ấy tạo ra sự chuyển động dọc song song gợi về một sự đơn điệu tẻ nhạt.

Nếu những khổ thơ trên con thuyền, cành củi là những cá thể buồn thì ở đây những tập hợp có quan hệ với nhau nhưng không làm giảm đi nỗi buồn. Nếu khổ thơ trên thân phận của thuyền của củi không định hướng thì những hàng bèo này cũng mặc cho nước cuốn trôi. Trong Tràng giang cuộc đời và tất cả cũng đều là những thân phận thụ động.

Nếu trên kia mơ ước giả định một âm thanh thì giờ đây lại mơ ước giả định một hình ảnh. Nhà thơ rất mong có một chuyến đò ngang để cắt mạch thời gian nghiệt ngã nhưng “Mênh mông không một chuyến đò ngang”.

Không có đò thì lại mơ ước có một cây cầu nối giữa đôi bờ thế nhưng cầu cũng không và một chút niềm thân mật của tình người cũng không có nốt. Hai từ “không” phủ định mạnh mẽ hơn rất nhiều so với câu hỏingơ ngác “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Điều này cho thấy nội tâm của tác giả tăng lên rất nhiều: càng lúc nỗi sầu ấy, nỗi khát khao tình người càng trở nên cồn cào vò xé và bức bách hơn.

Đọc câu thơ “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” ta như thấy xuất hiện hai màu xanh và vàng, hai sự vật chứa đựng sắc thái lạc quan đó là bờ xanh và bãi vàng nhưng không thể đến được nơi ấy. Từ “lặng lẽ” đặt trong câu thơ bưng bức một nỗi đau gợi nên sự u buồn của nhà thơ và của Tràng giang. Như vậy cùng lúc Tràng giang mang tính chất biểu tượng – đây là con sông cuộc đời.

Dường như tất cả những cảm xúc, những ấn tượng, những suy nghĩ của Huy Cận đã dồn lại ở khổ thơ cuối cùng này. Dòng đầu miêu tả phía chân trời, những lớp mây trắng ngày càng dâng cao lên, nó phản chiếu ánh hoàng hôn trông giống như những dãy núi bạc. Đây là một hình ảnh rất đẹp, chứa đựng biết bao yêu mến của nhà thơ đối với thiên nhiên, xứ sở.

Giữa tầng tầng lớp lớp mây núi chất chồng ấy, nổi bật hình ảnh một cánh chim nhỏ đang sà xuống. Đôi cánh lấp lánh hoàng hôn khiến nó trông giống như một giọt nắng từ trên trời cao rải xuống. Nhà thơ có cảm giác cả không gian vũ trụ đang đè nặng lên đôi cánh nhỏ bé ấy khiến cho chim phải chao nghiêng đi. Xuân Diệu từng bình “bóng chiều sa nặng đến nỗi nó phải nghiêng cánh / lệch cánh đi”. Đây là một cách nhìn rất lạ, chỉ có các nhà thơ mới quan niệm mới mẻ được như vậy.

Hai dòng thơ có cái thế tương phản: Một bên là lớp mây cao hùng vĩ và một bên là sự đơn độc nhỏ bé của cánh chim nhỏ nhoi. Cái mênh mông của vũ trụ và cái nhỏ bé của một thân phận đã gợi nên sự vĩnh viễn của vũ trụ và cái hữu hạn nhỏ bé cô đơn của một kiếp người. Như vậy, bất cứ ở khổ thơ nào, nhân vật tôi thường gởi mình vào trong hình ảnh để ám chỉ thân phận.

Cả bài thơ Tràng giang hoang vắng là vì người đọc chỉ thấy cảnh, thấy không gian. Nhưng đến hai dòng cuối, con người mới bắt đầu hiện hữu không phải với dáng vẻ bề ngoài mà là nội tâm ở bên trong con người.

Thể hiện rõ nhất cho cái nội tâm ấy phải kể đến câu thơ “Lòng quê dợn dợn vời con nước”. “Dợn dợn” đối ứng với “điệp điệp”, nó gợi lên cho chúng ta hình ảnh sóng nước tràng giang dường như chỉ còn dập dềnh một chỗ. Lí do là thời gian đã chuyển về buổi chiều muộn, tầm nhìn con người đã bị thu hẹp lại nhưng “dợn dợn” gợi một cảm giác về tâm trạng rất lạnh lẽo,cô đơn. Cái “dợn dợn” ấy đang vời dần

xa, cái hoang lạnh đang chuyển dần về phía xa của bóng tối. Con nước ở đây chính là những con sóng, những lớp sóng.

Kết hợp tất cả những từ ngữ ta sẽ thấy lớp sóng cứ gợn lên rồi trôi về phía mênh mông, càng xa càng lạnh lẽo ghê sợ.

Nếu ở câu đầu là sóng của tràng giang gợi lên nỗi buồn điệp điệp thì ở câu này cái tạo nên lớp sóng tạo nên nỗi buồn chính là lòng quê. Nói đúng hơn những lớp sóng này không phải gợi lên từ tràng giang mà là nơi sâu thẳm nhất của lòng quê. Do đó những lớp sóng như đang vô về nơi xa xôi ấy lại chính là những lớp sóng ào ạt trào dâng trong lòng nhân vật trữ tình. Như vậy “Dợn dợn vời con nước” là hình ảnh cũng là tình cảm diễn tả nỗi buồn của lòng quê, nỗi buồn của con người đang sống giữa đất đai quê hương mình mà như “thiếu quê hương”, cứ như người xa xứ chạnh lòng nhớ quê nhà.

Câu thơ cuối “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” đã gợi rõ nhất, sâu nhất nỗi buồn của Huy Cận. Câu thơ gợi nhớ ngay đến một ý thơ rất nổi tiếng trong thơ Thôi Hiệu:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Ở đây có sự giao thoa giữa cổ điển và hiện đại. Điển tích trong văn học là ẩn dụ gợi cho người đọc nhiều khám phá bí mật và thú vị. Câu thơ này kết thúc cả bài vì vậy nó có khả năng khơi gợi mênh mang cho độc giả. Tuy nhiên nếu chú ý hơn thì nỗi buồn của Huy Cận thực thể hơn, hiện đại hơn nỗi buồn đầy khí vị triết học của Thôi Hiệu. Huy Cận nghĩ đến cái nhà nơi chôn nhau cắt rốn – nơi có cha mẹ anh em xóm làng bầu bạn, nhớ nhà bằng một tấm lòng quê rất thật thà không khệnh khạng kiểu cách.Với Thôi Hiệu, phải nhờ lớp khói trên sông thì nỗi buồn mới xuất hiện. Còn ở Huy Cận, tuy không hề có khói sóng nhưng người vẫn mượn nó trong tưởng tượng để hướng lòng về chốn quê nhà. Xưa muốn bộc lộ nôi buồn thì phải có ngoại cảnh.Trong “thế giới” nhà thơ không cần mượn tói khói sóng trên sông bởi vì lòng nhà thơ đã có sẵn nỗi nhớ nhà kín đáo thiết tha. Mặc dù phủ định khói hoàng hôn và chính nhờ cách đó nhà thơ đã đưa khói hoàng hôn của Thôi Hiệu vào bài thơ để làm tăng nỗi buồn nhớ của nhà thơ, của người xa quê trước cảnh tràng giang.

C – KẾT LUẬN

Cảnh hoàng hôn tràng giang tuy có buồn, vắng nhưng là một bức tranh đẹp đẽ bởi được vẽ bằng một ngòi bút có tình yêu tha thiết đối với quê hương đất nước. Từ đó mới có những hình ảnh thật quen thuộc gần gũi với người Việt Nam: một dòng sông mênh mông, một con thuyền xuôi dòng, một cành củi khô, một bến bờ xa vắng, một cảnh chiều chợ tan… có cái gì như là hồn dân tộc, hồn đất nước quê hương thấm sâu trong từng cảnh vật giản dị nhưng gợi cảm ấy. Mặt khác Huy Cận gợi sâu nỗi buồn cô đơn để phủ nhận mà để biểu hiện niềm khát khao có được sự thân mật, sự hòa hợp gần gũi giữa những người với người trong tình người, tình đất nước.

Bài văn mẫu: Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Huy Cận là một nhà thơ có trưởng thành trong phong trào thơ mới với rất nhiều tác phầm nổi tiếng. Phong cách sáng tác của ông trước và sau Cách mạng tháng Tám có rất nhiều khác biệt. Đó chính là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, hoài cổ vì thời thế cách mạng sang không khí vui tươi phấn khởi sau cách mạng. Bìa thơ Tràng Giang được viết trước Cách mạng tháng Tám nên vẫn mang tâm trạng u uất, vấn vương  nỗi sầu. Bài thơ đã để lại trong lòng người đọc những nỗi niềm chất chứa, khó tả.

Cảm xúc của toàn bài thơ chính là một cảm giác u buồn, mang nỗi sầu nhân thế. Ngay từ nhan đề của bài thơ chúng ta đã nhận thấy được điều này “Tràng giang” chính là chính là một cụm  từ Hán việt chỉ một con sông vừa dài vừa rộng. Nhan đề của bài thơ không phải là trường giang mà lại là Tràng giang đã thể hiện được nỗi niềm của nhà thơ.

Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã khái quát nên chủ đề của bài thơ chính là một nỗi sầu nhân thế không biết tỏ cùng ai khi đứng giữa khoảng không gian mênh mông. Cả bài thơ toát nên vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ điển đây cũng là một nét đặc trưng trong thơ Huy Cận.

Mở đầu bài thơ đã mang đến cho người đọc những liên tưởng đến một dòng sông mang đấy nỗi buồn chất chứa.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Với rất từ ngữ gợi nên một nỗi buồn thê lưng “buồn”, “xuôi mái”, “sầu trăm ngả”…đã lột tả hết được những nỗi buồn mà trong lòng tác giả đang chất chứa. Ngay từ khổ thơ đầu bài thơ đã thể hiện được nỗi buồn nhân thế bất công. Từ khổ thơ đầu nét chấm phá cổ điển đã được thể hiện rất rõ nét, tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và đặc biệt là hình ảnh củi khô trôi một mình trên dòng sông, vô định. Mượn hình ảnh con thuyền tác giả đã thể hiện được một buồn nhân thế. Vốn dĩ thuyền và nước là hai hình ảnh là hai hình ảnh khôn thể tách rời nhau được nhưng trong câu thơ của Huy Cận lại “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”, câu thơ ngợi nên hình ảnh chia lìa xót xa,nghe hắt hiu đến quặn lòng. Một nỗi buồn mênh mang đến tận trong lòng. Điểm nhấn của câu thơ là hình ảnh “củi” gợi nên vẻ đơn chiếc, lạc lõng, cô đơn. Có thể nói câu thơ đã lột tả hết được toàn bộ những nỗi niềm chất chứa của tác giả đến tận cùng và nó cũng là tâm trạng của cả thế hệ thi sĩ lúc bấy giờ.

Khổ thơ thứ hai nỗi buồn lại được lột tả đến cấp độ nặng hơn nữa.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu  tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Hai câu thơ đã cho chúng ta thấy được khung cảnh đìu hiu vắng lặng của làng quê. Hình ảnh “cồn nhỏ” bơ  vơ giữa cơn gió chiều lạnh lẽo làm cho chúng ta cảm thấy buồn đến thắt ruột buồn đến nao lòng. Nó đã khoác lên chiếc áo buồn sầu vắng lặng. Ngay cả  một tiếng ồn ào của phiên chợ chiều cũng không nghe thấy. Câu hỏi tu từ đã gợi lên trong lòng chúng ta một nỗi niềm chất chứa, từ “ đâu đã thể hiện được nỗi thê lương của khung cảnh này, khung cảnh hoang sơ, đìu hiu, không một bóng người khiến cho tâm hồn tác giả không thể có một điểm tựa nào để bấu víu. Hai câu thơ cuối tác giả mượn hình ảnh và sông để đặc tả sự mênh mông vô định. Trời cao sông sâu để đo chiều sâu của sự vật hiện tượng đây là hình ảnh rất độc đáo của nhà thơ. Hình ảnh sông nước mênh mông đã thể hiện được nỗi cô liêu của tác giả, đã lột tả được nỗi cô liêu của tác giả.

Khổ thơ thứ ba tác giả đã tìm thấy sự ấm áp nơi thiên nhiên hiu quạnh:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ thứ ba người đọc nhận được sự chuyển biến sự vận động trong tâm hồn thơ của tác giả . Từ “dạt” đã thể hiện được sự tinh tế nhất trong chuyển biến trong tâm hồn tác giả, bèo chẳng biết đi về đâu đành dạt theo gió theo mây trời. Tác giả đang chờ đợi chuyến đò để được sang sông để chứng minh được mình vẫn đang tồn tại.

Nỗi niềm mong ngóng trở về quê hương của tác giả đáp lại là một nỗi niềm vô bờ bến.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Tâm tình tư tưởng của nhà thơ được gửi nhà thơ gửi gắm qua khổ thơ. Nét chấm phá, được thể hiện qua hình ảnh mây cao, núi bạc, giống như trong thơ Đường. Hình ảnh cánh chim bóng chiều sa là hình ảnh mang đến cho chúng ta những cảm xúc nao lòng.

Hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ quê nhà, nhớ quê hương da diết chất chứa đong đầy trong trái tim.

Bài thơ Tràng giang của Huy Cận là sự kết hợp vô cùng tuyệt mĩ giữa hiện thực và cổ điển, đã vẽ lên một bức tranh thiên u buồn, hiu quạnh. Qua đây đã thể hiện được tâm trạng cô liêu của tác giải khi đứng trước nỗi sầu nhân thế.

Trên đây là dàn ý bài văn chi tiết và bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận,các bạn tham khảo nhé!

 

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *